......

U xương là bệnh gì? Các loại u lành tính ở xương

Đau khớp gối

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ chuyên khoa II Mai Anh Kha - Bác sĩ ngoại Chấn thương chỉnh hình - Khoa Ngoại tổng hợp - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng.

Khi phát hiện có khối u ở xương, người bệnh thường lo lắng không biết đó có phải là u xương lành tính hay ác tính. Vậy u xương là bệnh gì, nếu là u xương lành tính thì có chữa khỏi không?

1. U xương là bệnh gì?

U xương là bệnh xảy ra khi các tế bào xương phát triển một cách không kiểm soát và tạo thành khối u.

Hầu hết các trường hợp là u xương lành tính. Mặc dù, khối u xương không phải là ung thư do đó không thể di căn, tuy nhiên bệnh vẫn ảnh hưởng đến xương và có thể làm suy yếu các vùng xương dễ tổn thương khi có va chạm.

Trường hợp u xương ác tính, thì đó là ung thư xương. Lúc này, bệnh có thể di căn ra khắp cơ thể và làm tổn thương những mô xương bình thường.

2. U xương lành tính có những loại nào?

U xương sụn
Có nhiều loại u xương lành tính

2.1 U xương sụn

U xương sụn là một trong những loại u xương lành tính thường gặp, chiếm ít nhất khoảng 45%. Khối u có khuynh hướng xuất hiện phổ biến ở hành xương dài, tuy nhiên cũng có thể có ở cột sốngxương sườn, hay gặp ở đầu dưới của xương đùi và đầu trên của xương cánh tay, thường phát triển chậm.

Tiến hành chụp X-quang có thể cho thấy hình ảnh nấm sụn có cuống, phát triển bắt nguồn từ hành xương gần sụn và nghiêng xa hướng khớp. Sau tuổi trưởng thành, hiếm khi khối u phát triển rộng ra. Khi khối u ngày càng phát triển về mặt kích thước, phẫu thuật loại bỏ là phương pháp điều trị chủ yếu những triệu chứng tại vị trí bị tổn thương do kích thước khối u xương lành tính này gây ra.

U xương sụn bẩm sinh có liên quan đến di truyền. Bệnh thường phát triển chậm và có xu hướng khiến xương dài bị cong. Đối với khối u thứ phát cần phải được loại bỏ hoàn toàn, số ít trường hợp đặc biệt có thể buộc phải cắt bỏ chi.

2.2 U nội sụn

U nội sụn là loại u xương lành tính chiếm tỷ lệ khoảng 10% ở nam và nữ, thường gặp ở bàn tay, xương bàn tay, xương ngón tay, đầu trên xương cánh tay. Khối u này thường xảy ra trong độ tuổi từ 10 - 70, tuổi trung bình mắc phải là khoảng 30 tuổi.

Tiến hành chụp X-quang có thể thấy các khối u nang gây tổn thương mở rộng đến thân xương đối với xương dài, tuy nhiên không có phản ứng màng xương. Các đốm canxi hóa trong nang là hình ảnh đặc trưng của loại u này, với đại thể là những hạt có màu xám trắng, cứng và thấu quang.

U xương lành tính dạng u nội sụn thường tiến triển chậm và ít gây gãy xương bệnh lý, tuy nhiên u có thể gây đau. U ở xương đòn hoặc những xương nhỏ như xương bàn tay, bàn chân thì có thể nhìn hoặc sờ được, ở vị trí khác thì khó có thể sờ hoặc nhìn được. Điều trị u nội sụn bằng cách nạo lấy khối u và cấy ghép xương.

Bàn tay
U nội sụn là loại u xương lành tính, thường gặp ở bàn tay, xương bàn tay

2.3 Nang xương đơn độc

Nang xương đơn độc là một dạng u xương lành tính có khả năng tự khỏi, bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng phần lớn là ở trẻ em từ 5-15 tuổi.

Thông thường, khối u không gây ra bất kỳ triệu chứng nào đến khi xuất hiện gãy xương bệnh lý. Tiến hành chụp X-quang cho thấy hình ảnh nang xương có nhiều ngăn, đặc biệt là thấu quang, phần đầu trên xương hoặc gần sụn phát triển, lớp vỏ nang thường mỏng và không có phản ứng màng xương. Bệnh thường gây gãy xương bệnh lý ít hoặc không di lệch xương. Nang xương có chứa dịch với lớp vỏ mỏng, dịch như huyết thanh hoặc máu.

Nang xương đơn độc gây ra những tổn thương đa dạng, từ lớn đến nhỏ, đôi khi được phát hiện trên hình ảnh X-quang khi đang tìm bệnh lý khác. Những tổn thương này thường lan rộng ra theo đường kính của hành xương.

Phương pháp điều trị thông thường trước đây là nạo bỏ khối u và cấy ghép xương tự thân. Với phương pháp này, bệnh có tỷ lệ tái phát trong khoảng 20-50%. Còn với kỹ thuật cắt bỏ nang rộng rãi, bao gồm cả thành xương, có hoặc không có ghép xương, thì tỷ lệ tái phát là 5-9%, tuy nhiên, kỹ thuật này rất ít được tiến hành.

Phân loại nang trong tổn thương u xương lành tính có thể đánh giá nguy cơ tái phát bệnh. Nếu phần đầu trên của nang tiếp xúc với tấm phát triển, thì nang này được phân loại là thể nang hoạt động, ngược lại, đó là nang tiến triển âm thầm. Sau phẫu thuật, thể nang hoạt động có nguy cơ tái phát cao hơn và nguy cơ thương tổn tấm sụn phát triển.

Hiện nay, phương pháp điều trị mới là tiêm methylprednisolon có tính an toàn sau phẫu thuật hơn với kết quả khả quan và tỷ lệ tái phát là 5-10%, ít biến chứng. Cần chờ đến khi gãy xương bệnh lý lành lại và tiến hành sinh thiết để kiểm tra kết quả sau phẫu thuật. Mặc dù thực hiện sinh thiết tương đối khó do tổn thương nhỏ, tuy nhiên sẽ giúp phân biệt với tổn thương u đơn độc.

2.4 U nguyên bào sụn

U xương lành tính dạng u nguyên bào sụn là tổn thương rất hiếm gặp, chỉ thường xảy ra ở sụn phát triển trong giai đoạn đang đóng tấm phát triển;

Sụn thường phát triển ở quanh gối và phần đầu trên xương cánh tay. U dạng này gây đau lan vào khớp, có thể sưng nề tại vị trí tổn thương và gây hạn chế trong vận động các khớp liên quan. Chụp X-quang cho thấy khối u gây hủy xương, tuy nhiên tổn thương không xâm lấn vượt qua tấm phát triển, dù tấm phát triển này đã đóng theo tuổi.

U xương lành tính dạng u nguyên bào sụn phát triển lệch tâm ở hành xương và có các đường viền do quá trình calci hóa trong khối u. Bệnh ít gây gãy xương bệnh lý và phản ứng màng xương. Đại thể là những hạt mô mật độ sụn có chứa hốc calci hóa. U nguyên bào sụn thường phát triển chậm và ít khi tiến triển thành ung thư.

Phương pháp điều trị chủ yếu là phẫu thuật nạo lấy khối u và cấy ghép xương, với tỷ lệ tái phát từ 10-40%. Nếu bị tái phát, tiếp tục điều trị bằng cách nạo lấy u và ghép xương. Phương pháp xạ trị và hóa trị được chứng minh là không có tác dụng trong điều trị u nguyên bào sụn.

Khi phát hiện khối u xương, người bệnh nên thăm khám và làm giải phẫu bệnh nhằm xác định bản chất của u xương ( lành tính hay ác tính ) để được điều trị kịp thời trước khi khối u ảnh hưởng đến vận động, đặc biệt đề phòng trường hợp khối u lành tính chuyển thành ác tính.

Bệnh nhân bị u xương có thể đến Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec để được thăm khám và điều trị. Tại đây có đội ngũ bác sĩ chuyên môn cơ xương khớp được đào tạo bài bản, giàu chuyên môn và kinh nghiệm; hệ thống trang thiết bị hiện đại, đạt chuẩn quốc tế; chất lượng dịch vụ chuyên nghiệp, cho hiệu quả chẩn đoán và điều trị cao.

Với hơn 22 năm tuổi nghề, Bác sĩ Mai Anh Kha từng đảm nhiệm vị trí Trưởng khoa và Phó khoa Ngoại - Bỏng tạo hình bệnh viện Trung ương Huế và công tác tại các đơn vị y tế lớn khác như Bệnh viện Đà Nẵng, Bệnh viện Giao thông 5. Hiện tại, đang Bác sĩ Ngoại chấn Thương chỉnh hình - Khoa Ngoại tổng hợp - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng.

Để được tư vấn chi tiết về bệnh u xương, quý khách vui lòng đến trực tiếp hệ thống y tế Vinmec hoặc đăng ký khám trực tuyến TẠI ĐÂY.

XEM THÊM:

295.9K

Bài viết liên quan