......

Đặc điểm của các đốt sống cổ

Đốt sống cổ

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Lưu Hồng Hải - Trưởng Khoa Ngoại Tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hạ Long.

Cột sống bao gồm nhiều đốt xương nối liền nhau tạo nên theo chiều uốn cong nhẹ với điểm đầu là xương chẩm và điểm cuối là xương cụt. Cột sống đóng vai trò vô cùng quan trọng không thể thiếu trong cơ thể. Trong hệ xương, cột sống quyết định sự sống và sự vận động của con người cũng như của tất cả những loài động vật có xương sống khác.

1. Đặc điểm đốt sống cổ

Cột sống cổ được cấu tạo bởi 7 đốt sống đầu tiên ghép lại với nhau, uốn hình chữ C. Điểm bắt đầu của đốt sống đầu tiên ngay dưới xương sọ.

Cột sống cổ bao gồm 2 phần:

  • Cột sống cổ cao bao gồm 2 đốt sống cổ đầu tiên, đốt số 1 gọi là đốt đội, đốt số 2 gọi là đốt trục. Cấu tạo của chúng có sự khác biệt so với những đốt sống còn lại và chúng có nhiều trục xoay.
  • Cột sống cổ thấp gồm 5 đốt sống còn lại với thân đốt sống phía trước và cung đốt sống ở phía sau.
Đốt sống cổ
Cột sống cổ được cấu tạo bởi 7 đốt sống đầu tiên ghép lại với nhau (C1-C7)

2. Đặc điểm đốt sống cổ

2.1 Đặc điểm chung

Thân dẹt, bề ngang phía trước dày hơn phía sau. Cuống tách ra từ phần sau của mặt bên thân đốt sống và khuyết sống trên-dưới đều sâu bằng nhau. Mảnh hình vuông, chiều rộng hơn chiều cao. Đỉnh của mỏm gai tách làm hai củ. Mỏm ngang dính vào thân và cuống bởi 2 rễ giới hạn nên một lỗ gọi là lỗ ngang để cho mạch đốt sống chui ngang qua.

Đỉnh của mỏm ngang tách làm 2 củ: củ trước đốt sống cổ và củ sau đốt sống cổ. Mặt trên của mỏm ngang có rãnh thần kinh gai sống. Mõm khớp có diện khớp phẳng nằm ngang. Diện trên nhìn lên trên và ra sau. Diện dưới nhìn xuống dưới và ra trước. Lỗ đốt sống cổ hình tam giác, rộng hơn ở các lỗ đốt sống ngực và thắt lưng để chứa đoạn phình cổ của tủy gai và thích ứng với biên độ di động lớn của đoạn sống cổ. Tóm lại, đặc trưng quan trọng nhất để xác định một đốt sống cổ đó là có lỗ ngang.

2.2 Đặc điểm riêng

Đốt sống cổ 1 (còn được gọi là đốt sống đội)

Đốt này có đặc điểm là không có thân sống nên có hình như một cái vòng với hai khối bên có hố khớp trên để khớp với đốt sống cổ 2. hai khối bên được nối nhau ở phía trước bởi cung trước và ở phía sau bởi cung sau. Phía trước cung lồi ra ở thành củ trước và phía sau lõm thành hố răng để khớp với răng của đốt cổ 2. Ở phía sau lồi ra thành củ sau và phía trên sát với khối bên có rãnh động mạch đốt sống.

Đốt sống cổ 2 (còn được gọi là đốt sống trục)

Đây là đốt sống dày và khỏe nhất trong các đốt sống cổ. Đặc điểm của đốt này là có một mỏm mọc lên trên thân đốt sống gọi là “ răng”. Mỏm răng hình tháp cao 1,5cm được coi như thân của đốt đội dính vào đốt trục để làm trục cho đốt đội quay. Ở phía trước răng có diện khớp trước để khớp với hố răng của đốt đội và có một diện khớp sau để khớp với dây chằng ngang của đốt đội.

Đốt sống cổ 4

Đốt sống này có đặc điểm là mỏm ngang lồi to ra thành củ cảnh. Củ này nếu to quá có thể chèn vào động mạch cảnh chung. Nó cũng là mốc gặp gỡ của động mạch cảnh chung với động mạch giáp dưới và động mạch đốt sống.

Đốt sống cổ 7

Đốt này có đặc điểm là mỏm gai không chẻ đôi và dài hẳn ra, sờ vào có thể nhận biết được dưới da nên còn được gọi là đốt sống lồi. Lỗ ngang rất nhỏ, có khi không có. Đốt sống cổ 7 nằm ở ranh giới giữa đoạn sống cổ và đoạn sống ngực nên có nhiều đặc điểm chuyển tiếp giữa đốt sống cổ và đốt sống ngực.

Đốt sống cổ
Hình ảnh đốt đội và đốt trục

3. Chức năng của đốt sống cổ

Đốt sống cổ có phạm vi vận động rất lớn. Đoạn cổ trên (C1-C3) trước hết đáp ứng cho chuyển động xoay, thường ít gặp thoái hóa ở đoạn này. Giữa đốt C1 và C2 không có đĩa đệm, vì vậy bệnh lý đĩa đệm ở đây cũng ít xảy ra. Các bệnh lý ở đoạn cổ trên chủ yếu là do chấn thương, hẹp ống sống bẩm sinh hoặc dị dạng Chiari.

Những tương quan giải phẫu này giải thích các dấu hiệu lâm sàng khi thoái hóa cột sống cổ, tùy theo vị trí của khớp bị thoái hóa sẽ chèn ép vào tủy cổ, vào động mạch sống, các nhánh giao cảm và các rễ thần kinh từ C5 đến C7.

4. Các bệnh thường gặp ở đốt sống cổ

Đốt sống cổ
Thoát vị đĩa đệm cổ là tình trạng phần nhân nhầy nằm bên trong đĩa đệm thoát ra khỏi vị trí mặc định của nó

Cột sống cổ là nơi dễ gặp phải tổn thương nhất, những bệnh lý liên quan mà nhiều người mắc phải đó là:

  • Thoái hóa đốt sống cổ
  • Thoát vị đĩa đệm cổ
  • Gai đốt sống cổ

Trong đó, có thoái hóa đốt sống cổ là căn bệnh phổ biến nhất và nguy hiểm nhất.

4.1 Thoái hóa đốt sống cổ

Thoái hóa đốt sống cổ thường bắt đầu bằng những hiện tượng hư khớp ở các diện thân đốt, đĩa liên đốt tới các màng, dây chằng, dần dần về sau xuất hiện hiện tượng thoái hóa các đốt sống, gây đau vùng cổ, nhất là khi vận động vùng cổ. Thoái hóa đốt sống cổ đang dần trở nên phổ biến, rất nhiều người mắc phải, đặc biệt là bệnh đang có xu hướng trẻ hóa.

Các biểu hiện dễ nhận biết đó là cổ cứng, không linh hoạt. Người bệnh xuất hiện tình trạng đau cổ, lan dần xuống vai, đau ở các khớp cổ và vai, đôi lúc đau đầu không rõ nguyên nhân....Thoái hóa cột sống cổ gây ra cho người bệnh rất nhiều khó khăn trong sinh hoạt và lao động

Đốt sống cổ có phạm vi hoạt động rất lớn và liên tục nên thường có nguy cơ chịu tổn thương lớn. Tình trạng tổn thương này tiếp tục kéo dài sẽ làm cho các đốt sống cổ bị suy giảm chức năng và dẫn đến thoái hóa. Trong đó các đốt sống gặp phải tổn thương nhiều nhất đó là ở các vị trí C4 C5 và C6.

Thoái hóa đốt sống cổ có thể gây một số biến chứng cho người bệnh như:

  • Đau đầu: do đốt sống cổ là nơi tập trung dây thần kinh quan trọng, khi đốt sống cổ thoái hóa sẽ xuất hiện gai chèn ép lên dây thần kinh hoặc gây hẹp động mạch. Những điều này làm giảm quá trình tuần hoàn máu lên não sẽ gây ra đau đầu cho người bệnh.
  • Chèn ép dây thần kinh: do cột sốt cổ tập trung nhiều dây thần kinh và mạch máu có vai trò giúp cung cấp dưỡng chất và oxy nuôi dưỡng hệ não bộ, đồng thời truyền và nhận tín hiệu từ não. Khi bị thoái hóa đốt sống cổ chèn dây thần kinh sẽ khiến quá trình cung cấp máu cho não bị gián đoạn, gây rối loạn tuần hoàn máu. Khi này người bệnh có thể sẽ gặp các triệu chứng như: đau đầu, chóng mặt, giảm thị lực, mất thăng bằng.
  • Hạn chế hoạt động của vùng cổ: đau tê, cứng cổ
  • Rối loạn tiền đình: đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, nôn mỗi khi đứng lên, ngồi xuống thay đổi tư thế lúc nằm
  • Bại liệt: rối loạn cảm giác tứ chi gây bại liệt 1 hoặc cả 2 bên cánh tay.
  • Gây tê tay: bàn tay bị đau nhức, tê hoặc gặp khó khăn khi cử động.
  • Gây thiếu máu não: đốt sống cổ bị thoái hóa khiến cho các mạch máu bị chèn ép, dẫn đến lượng máu lên não suy giảm, lâu ngày ảnh hưởng đến chức năng của não và cơ quan khác.
  • Gây ù tai: lâu dần có thể ảnh hưởng đến thính giác của người bệnh.
  • Gây mất ngủ: những cơn đau kéo dài sẽ khiến người bệnh luôn cảm thấy mệt mỏi, thiếu ngủ.

4.2 Thoát vị đĩa đệm cổ

Thoát vị đĩa đệm cổ là tình trạng phần nhân nhầy nằm bên trong đĩa đệm thoát ra khỏi vị trí mặc định của nó. Thông qua vết rách trên bề mặt nhân nhầy thoát ra khỏi vỏ bọc bao xơ của đĩa đệm tràn ra và gây ảnh hưởng trực tiếp đến các cơ quan nội tạng xung quanh nó.

Các triệu chứng thường gặp là đau ở xung quanh vùng cổ lan xuống vai tới cánh tay, bàn tay, ngón tay. Nếu như bạn gặp phải những dấu hiệu sau thì hãy nhanh chóng đến những cơ sở y tế để được thăm khám và chẩn đoán chính xác bệnh:

  • Cơn đau xuất hiện thường xuyên tại cột sống cổ: các cơn đau với cường độ từ âm ỉ đến dữ dội ban đầu xuất hiện ở vị trí cột sống cổ. Một vài ngày sau đó lan dần sang cả bả vai, sau gáy, cơn đau sẽ tăng mức độ khi người bệnh thực hiện vận động mạnh.
  • Hạn chế vận động: xương cổ yếu, cột sống cổ đau khi xoay ngang, hạn chế các hoạt động cúi gập người hoặc ngửa lên.
  • Yếu cơ: lực cơ cánh tay, cơ duỗi cổ tay, bắp tay, đầu ngón tay bị suy yếu rõ rệt ảnh hưởng nghiêm trọng đến công việc và sinh hoạt.
  • Tê bì, ngứa ran: triệu chứng này rất hay gặp và thường lan tỏa khắp cơ tam đầu xuống cánh tay, bàn tay, ngón tay út.
  • Đau một bên lồng ngực, khó thở.
  • Rối loạn tiêu hóa: táo bón, khó đi tiểu...

Tuy không phải bệnh nguy hiểm đe dọa đến tính mạng nhưng nếu bệnh tiến triển không điều trị hiệu quả, bệnh có thể gây nên các biến chứng ảnh hưởng tới sức khỏe như:

  • Thiếu máu nuôi dưỡng não
  • Hội chứng giao cảm cổ sau: đau đầu, chóng mặt, rối loạn thăng bằng, rối loạn chức năng nghe và nuốt.
  • Liệt nửa người, liệt tay chân

4.3 Gai đốt sống cổ

Đốt sống cổ là bộ phận hoạt động nhiều nhất nên rất dễ bị thoái hóa nếu không chăm sóc đúng cách và thường xuyên. Khi quá trình thoái hóa diễn ra sẽ khiến sụn khớp hao mòn dần, đĩa đệm xẹp xuống và thoát vị. Lúc này các dây chằng nối 2 đốt ống bị chùng giãn và theo cơ chế phản ứng tự điều hòa, cơ thể sẽ tăng cường lượng canxi ở cấu trúc dây chằng với mục đích tăng diện tích tiếp xúc giữa thân đốt sống, phân bố đều lực lên đốt sống bị tổn thương.

Lâu ngày theo thời gian, canxi lắng đọng ở dây chằng hình thành nên các gai xương. Cám mỏm xương thường mọc ra như gai quanh vùng đĩa đệm thoát vị, ở mặt trước và bên của vùng cột sống cổ. Các gai có độ dài chỉ vài mm thường không gây đau cho đến khi chúng ngày càng to dần, làm hẹp ống tủy và các lỗ tiếp hợp ở cột sống, chèn ép rễ thần kinh, ảnh hưởng cấu trúc cơ gây nên cơn đau dữ dội cho người bệnh.

Một số triệu chứng giúp nhận biết gai cột sống cổ:

  • Cơn đau cổ ê ẩm và liên tục.
  • Đau vùng vai gáy, nhức mỏi bả vai.
  • Tê hoặc ngứa ran ở cánh tay, thậm chí lan xuống các ngón tay.
  • Hạn chế vận động ở cổ, cứng cổ mỗi khi thức dậy, không quay đầu được mà phải xoay cả người.
  • Đau nửa đầu, đau buốt lên đỉnh đầu.
  • Có một số chóng mặt, buồn nôn, mệt mỏi, mất ngủ.
  • Nếu bệnh kèm theo thoát vị đĩa đệm vùng cổ có thể chèn ép nặng các rễ thần kinh gây nên bại liệt một hoặc cả hai cánh tay, rối loạn cảm giác tứ chi thần kinh thực vật.

Ngay khi nhận thấy có các triệu chứng bệnh như nêu ở trên, người bệnh nên đi khám để được chẩn đoán và điều trị sớm để không ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống.

Khách hàng có thể trực tiếp đến hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc để thăm khám hoặc liên hệ hotline tại đây để được hỗ trợ.

272.7K

Bài viết liên quan