......

Hệ thống đường dẫn truyền trong tim

Bài viết được tham vấn chuyên môn cùng Bác sĩ chuyên khoa I Phan Đình Thủy Tiên - Bác sĩ Nội tổng quát - Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Nha Trang.

Hệ thống dẫn truyền trong tim là mạng lưới các nút, tế bào và tín hiệu điều khiển nhịp tim của bạn. Mỗi lần tim đập, các tín hiệu điện truyền qua tim bạn. Những tín hiệu này khiến các bộ phận khác nhau của tim giãn ra và co lại. Sự giãn nở và co lại kiểm soát lưu lượng máu qua tim và cơ thể của bạn.

1. Hệ thống đường dẫn truyền trong tim là gì?

Hệ thống dẫn truyền của tim bao gồm các tế bào cơ tim và các sợi dẫn (không phải mô thần kinh) chuyên dùng để bắt đầu các xung động và dẫn chúng nhanh chóng qua tim. Chúng bắt đầu chu kỳ tim bình thường và điều phối sự co bóp của các buồng tim. Cả hai tâm nhĩ co bóp cùng nhau, cũng như tâm thất, nhưng sự co bóp tâm nhĩ xảy ra trước.

Trái tim của bạn là một máy bơm đưa máu đi khắp cơ thể. Đối với mỗi nhịp tim, các tín hiệu điện truyền qua đường dẫn truyền trong tim. Nó bắt đầu khi nút xoang nhĩ (SA) của bạn tạo ra một tín hiệu kích thích.

1.1. Nút xoang nhĩ

Nút xoang nhĩ (SA) là một cấu trúc hình trục bao gồm một chất nền mô sợi với các tế bào xếp chặt chẽ. Nó dài 10-20 mm, rộng 2-3 mm và dày, có xu hướng hẹp dần về phía tĩnh mạch chủ dưới (IVC). Nút SA nằm cách bề mặt thượng tâm mạc chưa đến 1mm, phía bên trong tâm nhĩ phải ở chỗ giao nhau mặt trước tim của tĩnh mạch chủ trên (SVC) và tâm nhĩ phải (RA)(1)

Động mạch cung cấp cho nút xoang phân nhánh từ động mạch vành phải ở 55-60% số quả tim hoặc động mạch mũ trái ở 40-45% số quả tim. Động mạch tiếp cận nút theo chiều kim đồng hồ hoặc ngược chiều kim đồng hồ xung quanh đường giao nhau giữa tĩnh mạch chủ trên và tâm nhĩ phải.(1)

Nút xoang nhĩ dày đặc bên trong với các đầu tận cùng thần kinh adrenergic và cholinergic hậu hạch. Các chất dẫn truyền thần kinh điều chỉnh tốc độ phóng điện của nút xoang nhĩ bằng cách kích thích các thụ thể beta-adrenergic và muscarinic. Cả hai loại phân nhóm thụ thể adrenocptor beta 1 và beta 2 đều có mặt trong nút xoang nhĩ. Nút xoang nhĩ ở người chứa mật độ thụ thể beta-adrenergic và muscarinic cholinergic lớn hơn gấp 3 lần so với mô tâm nhĩ bên cạnh.(1)

1.2. Dẫn truyền nội tâm nhĩ

Các bằng chứng giải phẫu cho thấy sự hiện diện của 3 đường dẫn truyền trong tâm nhĩ:

  • Đường liên nút trước
  • Đường liên nút giữa
  • Đường liên nút sau.

Đường liên nút trước bắt đầu ở rìa trước của nút xoang nhĩ và cong về phía trước xung quanh tĩnh mạch chủ trên để đi vào dải liên nhĩ phía trước, được gọi là bó Bachmann. Dải này tiếp tục đến tâm nhĩ trái (LA), với đường liên nhĩ phía trước đi vào bờ trên của nút nhĩ thất. Bó Bachmann là một bó cơ lớn dường như dẫn truyền xung động tim một cách ưu tiên từ tâm nhĩ phải đến tâm nhĩ trái.

Đường liên thất giữa bắt đầu ở rìa trên và rìa sau của nút xoang, đi về phía sau tĩnh mạch chủ trên đến đỉnh của vách liên nhĩ và đi xuống trong vách liên nhĩ đến rìa trên của nút nhĩ thất.(1)

Đường liên thất phía sau bắt đầu ở rìa sau của nút xoang và đi ra phía sau xung quanh tĩnh mạch chủ trên và dọc theo phần tận cùng của mào lược đến đỉnh van eustachian và sau đó đi vào vách ngăn liên nhĩ bên trên xoang vành, nơi nó nối với phần sau của nút nhĩ thất. Các nhóm mô liên nút này tốt nhất được gọi là cơ tim tâm nhĩ liên nút, không phải các ống, vì chúng dường như không phải là các ống chuyên biệt rời rạc về mặt mô học.(1)

1.3. Nút nhĩ thất

Phần nhỏ gọn của nút nhĩ thất (AV) là một cấu trúc nông nằm ngay bên dưới nội tâm mạc tâm nhĩ phải, trước lỗ xoang vành và ngay trên chỗ chèn của lá vách van ba lá. Nó nằm ở đỉnh của một hình tam giác được tạo thành bởi vòng van ba lá và dây chằng Todaro, bắt nguồn từ thể sợi trung tâm và đi ra phía sau thông qua vách liên nhĩ để liên tục với van Eustachian.

Ở 85-90% tim người, động mạch cung cấp cho nút nhĩ thất là một nhánh từ động mạch vành phải bắt nguồn từ giao điểm phía sau của rãnh nhĩ thất và rãnh liên thất (Crux). Trong 10-15% số trái tim còn lại, một nhánh của động mạch vành mũ cung cấp cho động mạch nút nhĩ thất. Các sợi ở phần dưới của nút nhĩ thất có thể biểu hiện sự hình thành xung động tự động. Chức năng chính của nút nhĩ thất là điều hòa sự truyền xung động từ tâm nhĩ đến tâm thất để điều phối các cơn co thắt tâm nhĩ và tâm thất.

dẫn truyền trong tim
Hệ thống dẫn truyền trong tim bao gồm các tế bào cơ tim và các sợi dẫn

1.4. Bó His mang tín hiệu đến các sợi Purkinje

Bó His là một cấu trúc kết nối với phần xa của khối nút nhĩ thất đi xuyên qua thể sợi trung tâm và tiếp tục đi qua các sợi vòng, nơi nó được gọi là phần không phân nhánh khi nó xuyên qua vách ngăn màng. Mô liên kết của thân sợi trung tâm và vách ngăn màng bao bọc phần xuyên thấu của bó nhĩ thất, có thể đưa ra những phần mở rộng vào thân sợi trung tâm. Tế bào gần của phần thâm nhập không đồng nhất và giống với tế bào của khối nút nhĩ thất tế bào xa tương tự như tế bào ở các nhánh bó gần.

Các nhánh từ động mạch vành xuống trước và xuống sau đi xuống cung cấp máu cho vách liên thất trên, làm cho hệ thống dẫn truyền tại vị trí này ít bị tổn thương do thiếu máu cục bộ hơn, trừ khi thiếu máu cục bộ lan rộng.

1.5. Các nhánh của bó His

Bó His là một cấu trúc kết nối với phần xa của khối nút nhĩ thất đi xuyên qua thể sợi trung tâm và tiếp tục đi qua các sợi vòng, nơi nó được gọi là phần không phân nhánh khi nó xuyên qua vách ngăn màng. Mô liên kết của thân sợi trung tâm và vách ngăn màng bao bọc phần xuyên thấu của bó nhĩ thất, có thể đưa ra những phần mở rộng vào thân sợi trung tâm. Tế bào gần của phần thâm nhập không đồng nhất và giống với tế bào của khối nút nhĩ thất tế bào xa tương tự như tế bào ở các nhánh bó gần.

Các nhánh từ động mạch vành xuống trước và xuống sau đi xuống cung cấp máu cho vách liên thất trên, làm cho hệ thống dẫn truyền tại vị trí này ít bị tổn thương do thiếu máu cục bộ hơn, trừ khi thiếu máu cục bộ lan rộng.

1.6. Những sợi Purkinje tận cùng

Các sợi Purkinje tận cùng kết nối với đầu tận cùng của các nhánh bó để tạo thành mạng lưới đan xen trên bề mặt nội tâm mạc của cả hai tâm thất, chúng truyền xung động tim gần như đồng thời đến toàn bộ nội tâm thất phải và trái. Các sợi Purkinje có xu hướng ít tập trung hơn ở đáy của tâm thất và các đầu cơ nhú. Chúng chỉ xâm nhập vào 1⁄3 bên trong của nội tâm mạc. Sợi Purkinje có khả năng chống thiếu máu cục bộ cao hơn sợi cơ tim bình thường.

1.7. Sự phân bố của nút nhĩ thất, bó His và cơ tim tâm thất

Nút nhĩ thất và bó His được bao bọc bởi nguồn cung cấp dồi dào các sợi cholinergic và adrenergic với mật độ cao hơn so với cơ tim tâm thất. Các dây thần kinh phó giao cảm đến vùng nút nhĩ thất đi vào tim ở ngã ba của IVC và mặt dưới của tâm nhĩ trái, tiếp giáp với lỗ xoang vành.

Đầu vào thần kinh tự động đến tim thể hiện một mức độ "nghiêng về phía", với các dây thần kinh giao cảm và phế vị bên phải ảnh hưởng đến nút xoang nhĩ nhiều hơn nút AV và các dây thần kinh giao cảm và phế vị bên trái ảnh hưởng đến nút AV nhiều hơn nút xoang nhĩ. Việc phân phối đầu vào thần kinh cho các nút xoang nhĩ và nút AV rất phức tạp do có sự chồng chéo bên trong đáng kể.

Kích thích hạch sao bên phải tạo ra nhịp tim nhanh xoang mà ít ảnh hưởng đến dẫn truyền nút nhĩ thất, trong khi kích thích hạch sao trái thường tạo ra sự dịch chuyển máy tạo nhịp xoang sang vị trí ngoài tử cung và liên tục rút ngắn thời gian dẫn truyền nút nhĩ thất và độ khúc xạ, nhưng tốc độ không nhất quán tốc độ phóng điện của nút SA. Tuy nhiên, việc kích thích dây thần kinh phế vị cổ tử cung phải làm chậm tốc độ phóng điện của nút xoang nhĩ và kích thích dây thần kinh phế vị bên trái chủ yếu kéo dài thời gian dẫn truyền nút AV và khúc xạ khi có mặt. Cả kích thích giao cảm và phế vị đều không ảnh hưởng đến sự dẫn truyền bình thường trong bó His.

dẫn truyền trong tim
Loạn nhịp tim ảnh hưởng đến sự dẫn truyền trong tim

2. Tình trạng và rối loạn ảnh hưởng đến sự dẫn truyền trong tim

2.1. Loạn nhịp tim ảnh hưởng đến sự dẫn truyền trong tim

Tốc độ xoang bình thường là 60-100 nhịp/phút khi nghỉ ngơi bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố, bao gồm đầu vào của hệ thần kinh tự chủ, thuốc, tình trạng chuyển hóa và điện giải cũng như tình trạng bệnh lý.

Căn nguyên của rối loạn chức năng nút xoang và nút nhĩ thất như sau:

Các dạng di truyền của bệnh dẫn truyền tim rất hiếm, tuy nhiên việc phát hiện ra các đột biến gen gây bệnh đã nâng cao hiểu biết của chúng ta về các quá trình cơ bản tạo ra và lan truyền xung động.

2.2. Các rối loạn khác

  • Khối nhánh bó: Một khối trong các sợi Purkinje ở một bên tim của bạn, gây ra rối loạn nhịp tim.
  • Khối tim: Suy giảm tín hiệu điện giữa tâm nhĩ và tâm thất của tim.
  • Hội chứng QT dài (LQTS) : Tâm thất của bạn co và giải phóng quá chậm, đôi khi dẫn đến ngất xỉu hoặc ngừng tim đột ngột.
  • Co thắt tâm thất sớm: Nhịp tim quá sớm trong tâm thất, khiến tim đập nhanh.
  • Ngừng tim đột ngột : Một sự trục trặc nghiêm trọng trong nhịp tim khiến tim bạn ngừng đập, dẫn đến tử vong nếu không được điều trị ngay lập tức.

3. Một vài lời khuyên giúp hệ thống dẫn truyền khoẻ mạnh

Nhiều vấn đề về nhịp tim là kết quả của các yếu tố di truyền. Chúng có thể liên quan đến cấu trúc tim của bạn hoặc các yếu tố khác.

Nhưng bạn có thể làm việc để giữ cho hệ thống dẫn truyền của tim và toàn bộ trái tim của bạn hoạt động tốt bằng cách sống một lối sống lành mạnh như sau:

  • Đạt được và duy trì cân nặng hợp lý theo BMI;
  • Tránh khói thuốc và bỏ thuốc lá;
  • Không lạm dụng thuốc hoặc thuốc kê đơn;
  • Hạn chế uống rượu hay chỉ uống rượu ở mức độ vừa phải;
  • Ăn một chế độ ăn uống bổ dưỡng với đầy đủ trái cây, rau và ngũ cốc nguyên hạt;
  • Cố gắng duy trì lượng thời gian tập thể dục ít nhất 150 phút mỗi tuần;
  • Quản lý căng thẳng bằng các kỹ thuật đối phó lành mạnh, chẳng hạn như liệu pháp trò chuyện hoặc thiền định.

Tóm lại, trái tim của bạn là một máy bơm đưa máu đi khắp cơ thể. Đối với mỗi nhịp tim, các tín hiệu điện truyền qua đường dẫn truyền trong tim. Nó bắt đầu khi nút xoang nhĩ (SA) của bạn tạo ra một tín hiệu kích thích.

Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để được giảm ngay 10% phí khám khi đặt hẹn khám lần đầu trên toàn hệ thống Vinmec (áp dụng từ 1/10 - 31/10/2022). Quý khách cũng có thể quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn tư vấn từ xa qua video với các bác sĩ Vinmec mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng.

Nguồn tham khảo: my.clevelandclinic.org, emedicine.medscape.com

26.7K

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan
  • Công dụng thuốc Teicomedlac
    Công dụng thuốc Teicomedlac

    Thuốc Teicomedlac có tác dụng gì, có phải là thuốc kháng sinh không? Với thành phần chính là Teicoplanin, thuốc Teicomedlac có tác dụng chống vi khuẩn, ngăn không cho vi khuẩn tăng trưởng và phát triển gây nhiễm khuẩn ...

    Đọc thêm
  • Vancomycin Kabi
    Công dụng thuốc Vancomycin Kabi

    Thuốc Vancomycin kabi chứa hoạt chất chính là Vancomycin, một loại kháng sinh thuộc nhóm Glycopeptides, hoạt động bằng cách loại bỏ một số vi khuẩn gây nhiễm trùng da và các mô mềm, xương khớp, viêm nội tâm mạc ...

    Đọc thêm
  • Atenstad
    Công dụng thuốc Atenstad

    Atenstad có thành phần chính là Atenolol, thuộc nhóm thuốc chẹn thụ thể beta-adrenergic. Cùng tìm hiểu thuốc Atenstad có tác dụng gì, liều dùng và lưu ý khi sử dụng trong bài viết dưới đây.

    Đọc thêm
  • Flamitra
    Công dụng thuốc Flamitra

    Flamitra được sản xuất và đăng ký bởi Công ty Flamingo Pharmaceuticals Limited, thuộc nhóm thuốc trị ký sinh trình, chống nhiễm khuẩn, kháng virus, kháng nấm. Để đảm bảo an toàn cho sức khỏe và phát huy tối đa ...

    Đọc thêm
  • Etexcefetam
    Công dụng thuốc Etexcefetam

    Etexcefetam là thuốc kháng sinh, điều trị các trường hợp nhiễm khuẩn. Thuốc được kê đơn và dùng theo chỉ định của bác sĩ, dưới sự thực hiện bởi nhân viên y tế. Để hiểu rõ hơn về thuốc Etexcefeta ...

    Đọc thêm