......

Cấu trúc và chức năng của tế bào bình thường

tế bào bình thường

Đơn vị cấu tạo cơ bản nhất của cơ thể người là tế bào. Mặc dù có cấu trúc rất nhỏ nhưng lại mang nhiệm vụ và chức năng vô cùng quan trọng. Vậy cấu trúc và chức năng của tế bào bình thường là gì?

1.Tế bào là gì?

Đơn vị cấu trúc và chức năng cơ bản nhất của cơ thể người là các tế bào. Mỗi tế bào đều có nhiệm vụ riêng biệt để tham gia vào hoạt động sinh lý bình thường. Đồng thời, giữa các tế bào bình thường sẽ có sự tương tác với nhau để góp phần duy trì trạng thái cân bằng nội mô hay sự hằng định về các chất trong cơ thể.

Nhà khoa học người Đức, Rudolf Virchow (1821-1902) đã đưa ra thuyết về bệnh học tế bào ngay từ những năm đầu của thế kỷ 19. Hiện nay, với sự phát triển vượt bậc của y học thì tất cả mọi bệnh tật đều có liên quan đến sự rối loạn chức năng và cấu trúc tế bào.

2.Cấu trúc và chức năng của tế bào bình thường

Để hiểu rõ hơn tế bào là gì, chúng ta cần tìm hiểu cấu trúc và chức năng cơ bản của một tế bào bình thường. Đặc điểm chung của tất cả các tế bào là đều có cấu tạo gồm nhân, bào tương chứa các bào quan và màng bao bọc bên ngoài.

2.1. Nhân

Nhân là nơi diễn ra các hoạt động di truyền của tế bào, cấu tạo gồm màng nhân, dịch nhân, hạt nhân và chất nhiễm sắc:

Cấu tạo nhân của tế bào
Cấu tạo nhân của tế bào

  • Màng nhân: Là ranh giới phân chia nhân với bào tương, liên kết với lưới nội bào. Ngoài ra còn có các hạt riboxom bám ở mặt ngoài màng nhân;
  • Dịch nhân: Thành phần dịch nhân bao gồm các nucleoprotein, glycoprotein và các enzym chuyển hóa nucleotid;
  • Hạt nhân: Quá trình tổng hợp RNA diễn ra tại đây;
  • Chất nhiễm sắc: Là cơ sở vật chất di truyền chủ yếu của tế bào hay còn gọi là DNA. Bộ nhiễm sắc thể ở người bao gồm 22 cặp NST thường và 1 cặp NST giới tính.

2.2. Bào tương

Tất cả các tế bào đều có bào tương, số lượng bào tương và các bào quan khác nhau giữa các loại tế bào và thường có xu hướng tăng lên trong quá trình trưởng thành của cơ thể.

Tế bào gan và thận là trường hợp đặc biệt vì có số lượng bào tương và bào quan nhiều hơn bình thường. Các bào quan chính trong bào tương bao gồm: ty thể, ribosome, lưới nội bào hạt và không hạt, bộ máy golgi và lysosome.

  • Ty thể: Ty thể có cấu trúc hạt nhỏ, hình cầu hoặc bầu dục, cấu trúc gồm 2 màng bao bọc tương tự màng tế bào. Mỗi ty thể gồm 2 phần: đầu và chân. Phần đầu sản xuất các enzyme tổng hợp năng lượng ATP còn phần chân sản xuất các enzyme tham gia oxy hoá tế bào. Do đó, ty thể có nhiệm vụ sản xuất năng lượng ATP cho mọi hoạt động sống bình thường của cơ thể.
Ty thể
Ty thể có cấu trúc hạt nhỏ, hình cầu hoặc bầu dục

  • Ribosomes: Mọi tế bào bình thường đều có chứa ribosome, đây là những hạt nhỏ, hình cầu hay trứng có kích thước khác nhau. Cấu trúc gồm 2 phần không đều nhau: tiểu đơn vị lớn và tiểu đơn vị nhỏ, vị trí liên kết giữa 2 phần này có chứa RNA thông tin và RNA vận chuyển. Vai trò chính của ribosome là tổng hợp protein và các enzym chuyển hóa của hoạt động sống tế bào.
  • Lưới nội bào: Lưới nội bào có ở tất cả các tế bào bình thường ngoại trừ hồng cầu trưởng thành. Đây là một hệ thống túi thông giữa khoang quanh nhân tế bào với màng tế bào và môi trường bên ngoài. Lưới nội bào gồm 2 loại là có hạt và không hạt.
  • Bộ máy Golgi : Bộ máy Golgi chưa được nghiên cứu đầy đủ nhưng thành phần thường giàu protein, phospholipid, một số enzyme phosphatase kiềm và acid. Ngoài ra, bộ Golgi còn sản xuất các hạt chế tiết như melanosomes (gặp ở tế bào sắc tố da và mắt). Protein được sản xuất ở lưới nội bào được chuyển sang bộ máy Golgi để gắn thêm các đuôi sulfat, carbohydrate hoặc lipid vào các chuỗi acid amin nhất định. Sau đó chúng được đưa vào các hạt chế tiết hoặc lysosome. Các protein hoàn chỉnh sẽ cấu tạo màng tế bào trong quá trình phát triển của tế bào bình thường.
  • Lysosome: Lysosome có dạng túi, hình cầu hay hình trứng và có màng bao bọc (màng này có nguồn gốc từ lưới nội bào hoặc bộ máy Golgi). Chức năng chính của bào quan này là tiêu hóa các chất do đó bên trong chứa nhiều acid hydrolase và các enzym tiêu hoá. Bình thường, các men này không gây hại cho tế bào nhưng nếu lysosome bị tổn thương và làm rò rỉ các men tiêu hóa vào bào tương hoặc ra bên ngoài tế bào thì chúng có thể gây hại cho cơ thể.
Lysosome
Lysosome giúp tiêu hóa các chất trong cơ thể

2.3. Màng tế bào

Màng tế bào là ranh giới ngăn cách tế bào và môi trường bên ngoài. Thành phần chính gồm protein, lipid và một số carbohydrate khác như glycoprotein glycolipid. Các thành phần màng tế bào được sắp xếp thành 2 lớp lipid kép có tính phân cực ở bên trong và bên ngoài màng

Thành phần protein của màng tế bào có nhiều chức năng khác nhau. Đầu tiên, protein giúp vận chuyển các chất giữa tế bào và môi trường ngoài. Ngoài ra, protein là nơi tiếp nhận thông tin từ hormone và các chất dẫn truyền hóa học ở bên ngoài và vận chuyển thông tin đó vào trong tế bào.

Màng tế bào là một cấu trúc sống vì màng có thể tự chuyển hóa, tự sinh sản, có khả năng thích nghi và điều hoà, từ đó giúp cho các tổ chức phát triển và tồn tại.

Trong tế bào bình thường, màng chiếm khoảng 80% khối lượng và là nơi tạo ra các bào quan nên nó có vai trò rất quan trọng. Chức năng của màng tế bào bao gồm:

  • Trung tâm quá trình chuyển hóa năng lượng sinh học;
  • Liên kết thông tin giữa các tế bào với nhau;
  • Ngăn cách tế bào và các bào quan với môi trường ngoài nên giúp duy trì chức năng riêng biệt của mỗi bào quan.

Do đó, nếu màng tế bào bị tổn thương nghiêm trọng có thể dẫn đến chết tế bào.

3.Cấu trúc của tế bào khi nhìn kính hiển vi

Nguyên sinh chất là những chất hóa học cấu tạo nên tế bào. Mỗi tế bào được cấu tạo từ 5 chất cơ bản là nước, chất điện giải, protein, lipid và carbohydrate.

tế bào mỡ
Dịch nội bào không có ở tế bào mỡ

3.1. Nước

Dịch nội bào chủ yếu là nước, chiếm tỷ lệ khoảng 70-85% ở tất cả tế bào bình thường ngoại trừ tế bào mỡ. Do đó, đa số các chất bên trong tế bào đều tan trong nước bên cạnh một số hạt rắn nằm lơ lửng nên các phản ứng sinh hóa giữa các chất hòa tan hoặc trên bề mặt các hạt rắn.

3.2. Chất điện giải

Các chất điện giải quan trọng của tế bào bao gồm kali, magie, photphat, sulfat, bicarbonate và một ít natri, clo và calci. Đây là thành phần hóa học vô cơ cho các phản ứng cần thiết của tế bào bình thường và tham gia một số hoạt động sống của cơ thể.

3.3. Protein

Thành phần nhiều thứ hai sau nước chính là protein với tỷ lệ khoảng 10-20% và được chia thành 2 loại là protein cấu trúc và chức năng.

  • Protein cấu trúc có cấu trúc sợi dài được tổng hợp từ những protein riêng biệt. Nhiệm vụ của protein cấu trúc là tạo thành các sợi vi quản cấu thành khung xương của các bào quan;
Protein
Hình ảnh protein cấu trúc

  • Protein chức năng là loại protein hoàn toàn khác biệt, gồm nhiều tổ hợp phân tử ở dạng ống-cầu. Đa số đây là những enzym xúc tác cho những phản ứng hóa học trong tế bào..

3.4. Lipid

Những phân tử lipid quan trọng của tế bào bình thường là phospholipid và các cholesterol, chiếm tỷ lệ khoảng 2% tế bào. Các phân tử lipid không tan trong nước nên được sử dụng trong việc tạo màng tế bào hoặc các màng bào quan để ngăn cách giữa các môi trường khác nhau.

3.5. Carbohydrate

Carbohydrate là thành phần tham gia ít nhất vào các hoạt động tế bào, ngoại trừ phân tử glycoprotein. Chức năng chính của carbohydrate là dinh dưỡng tế bào.

Ở môi trường bên ngoài, carbohydrate ở dạng glucose có nhiệm vụ cung cấp năng lượng hoạt động cho tế bào. Một lượng nhỏ nằm bên trong tế bào dưới dạng glycogen, một dạng dự trữ năng lượng để cung cấp cho hoạt động tế bào trong trường hợp cần thiết.

Các tế bào trong cơ thể đều đảm nhận vai trò quan trọng trong các hoạt động sống của con người. Vì thế bảo vệ tế bào luôn khỏe mạnh, hoạt động tốt, chính là bảo vệ sức khỏe lâu dài cho chúng ta về sau.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

16 lượt đọc

Bài viết liên quan