......

Hiệu suất chẩn đoán hình ảnh dải hẹp nội soi đại trực tràng và hệ thống phân loại của Nhật cho ung thư đại trực tràng cùng các tổn thương tiền ung thư

Bài viết của Thạc sĩ, Bác sĩ Mai Viễn Phương - Trưởng đơn nguyên Nội soi tiêu hóa - Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park

Trong những năm gần đây, hai phân loại hình ảnh dải hẹp (NBI) mới đã được đề xuất: Phân loại nội soi đại trực tràng quốc tế NBI (NICE) và phân loại của nhóm chuyên gia NBI Nhật Bản (JNET). Hầu hết các nghiên cứu xác nhận của hai phân loại NBI mới được tiến hành trong các đơn vị phân loại bởi các nhà nội soi có kinh nghiệm và việc áp dụng sử dụng tại các trung tâm khác nhau giữa các nhà nội soi với các kỹ năng nội soi khác nhau vẫn chưa được biết.

1. Các chuyên gia đã tiến hành đánh giá như thế nào?

Trong một nghiên cứu được thực hiện tại châu Á, sáu nhà nội soi với các mức độ kinh nghiệm khác nhau đã tham gia vào một nghiên cứu, mục đích là đánh giá ứng dụng lâm sàng và các vấn đề có thể xảy ra của phân loại NICE và JNET để chẩn đoán phân biệt ung thư đại trực tràng và tổn thương tiền ung thư. 87 bệnh nhân liên tiếp với tổng số 125 tổn thương đã được chụp ảnh trong phương pháp soi đại tràng ánh sáng trắng thông thường không phóng đại, NBI không phóng đại và NBI phóng đại. Ba nhóm hình ảnh nội soi của mỗi tổn thương được sáu nhà nội soi đánh giá theo thứ tự ngẫu nhiên bằng cách sử dụng phân loại NICE và JENT riêng biệt. Sau đó, các tác giả tính toán độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị tiên đoán dương tính và giá trị dự đoán âm tính của sáu nhà nội soi đối với từng loại trong hai phân loại. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác của phân loại JNET loại 1 và 3 tương tự như phân loại NICE loại 1 và 3 ở cả nhóm bác sĩ nội soi có kinh nghiệm cao (HEE) và bác sĩ nội soi ít kinh nghiệm (LEE). Độ đặc hiệu của phân loại JNET loại 1 và 3 và phân loại NICE loại 3 ở cả hai nhóm nhóm bác sĩ nội soi có kinh nghiệm cao và bác sĩ nội soi ít kinh nghiệm là> 95%, và sự thống nhất chung giữa các máy chủ là tốt ở cả hai nhóm. Độ nhạy của các tổn thương loại 3 phân loại NICE để chẩn đoán ung thư biểu mô SM-d ở nhóm nhóm bác sĩ nội soi có kinh nghiệm cao cao hơn đáng kể so với nhóm bác sĩ nội soi ít kinh nghiệm (91,7% so với 83,3%; P= 0,042). Độ nhạy của tổn thương loại 2B phân loại JNET đối với chẩn đoán loạn sản cấp độ cao hoặc ung thư biểu mô xâm lấn bề mặt dưới niêm mạc ở nhóm nhóm bác sĩ nội soi có kinh nghiệm cao và bác sĩ nội soi ít kinh nghiệm lần lượt là 53,8% và 51,3%. So với các loại phân loại JNET khác, khả năng chẩn đoán của loại 2B là yếu nhất. Các tác giả đã đưa ra kết luận: Chiến lược điều trị của hai phân loại tổn thương loại 1 và 3 có thể dựa trên kết quả nội soi. Các tổn thương JNET loại 2B cần được kiểm tra thêm.

2. Tỉ lệ và tiên lượng của ung thư đại trực tràng

Ung thư đại trực tràng là gì? (CRC) Đây là bệnh lý ác tính phổ biến thứ ba và là nguyên nhân gây tử vong do ung thư đứng hàng thứ hai trên toàn cầu trong năm 2018 . Tỷ lệ mắc và tử vong do ung thư đại trực tràng vẫn đang tăng nhanh ở nhiều quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Kết cục và tiên lượng của bệnh nhân ung thư đại trực tràng có liên quan chặt chẽ đến giai đoạn của bệnh. Miller và cộng sự báo cáo rằng tỷ lệ sống sót tương đối 5 và 10 năm ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng lần lượt là 65% và 58%, nhưng tỷ lệ sống sót tương đối 5 năm là 90% khi ung thư đại trực tràng được phát hiện ở giai đoạn khu trú. Do đó, điều quan trọng là phải cải thiện tỷ lệ phát hiện ung thư đại trực tràng giai đoạn đầu và các tổn thương tiền ung thư.

3. Vai trò của nội soi đại trực tràng trong phát hiện các tổn thương tiền ung thư

Nội soi đại trực tràng có thể quan sát trực tiếp các tổn thương ở ruột nên không thể thay thế được trong việc kiểm tra bệnh lý đường ruột, đặc biệt là ung thư đại trực tràng. Để cải thiện tỷ lệ phát hiện ung thư đại trực tràng giai đoạn sớm và các tổn thương tiền ung thư, nhiều kỹ thuật hỗ trợ mới đã được sử dụng trong thực hành lâm sàng như soi ruột thừa, nội soi phóng đại, nội soi huỳnh quang, nội soi laser đồng tiêu và nội soi nhuộm màu điện tử. Tuy nhiên, quy trình nội soi sắc tố phức tạp và tốn nhiều thời gian, nội soi huỳnh quang và nội soi laser đồng tiêu đắt tiền và những nhược điểm này hạn chế việc áp dụng các kỹ thuật mới này.

4. Nội soi nhuộm màu điện tử - bước tiến mới của nội soi tiêu hoá

So với các kỹ thuật mới này, nội soi nhuộm màu điện tử thuận tiện và thực tế hơn, độ nhạy và độ đặc hiệu trong việc phân biệt tổn thương tân sinh đại trực tràng với tổn thương không phải ung thư là khoảng 90% và 85%. Nội soi nhuộm màu điện tử bao gồm hình ảnh dải hẹp (NBI), tăng cường màu sắc hình ảnh quang phổ uốn cong và i-scan, trong đó NBI được sử dụng rộng rãi nhất. Kể từ khi NBI xuất hiện vào năm 1999, nó đã là một công cụ đáng tin cậy góp phần nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán, chẳng hạn như phân biệt ung thư với các tổn thương không phải ung thư và xác định đặc điểm của ung thư đại trực tràng. Thông qua phân tích cấu trúc mạch mao mạch, cấu trúc bề mặt và màu sắc tổn thương dưới NBI, các nhà nghiên cứu đã đề xuất nhiều cách phân loại để đánh giá chính xác bản chất của tổn thương và lựa chọn chiến lược điều trị phù hợp. Trong những năm gần đây, các phân loại phóng đại NBI đại trực tràng như phân loại Hiroshima, Sano, Showa và Jikei đã được sử dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng và đóng một vai trò quan trọng trên lâm sàng . Tuy nhiên, nội soi phóng đại vẫn chưa được áp dụng rộng rãi bên ngoài Nhật Bản.

Hình ảnh Polyp tăng sản ở đại tràng
Hình ảnh Polyp tăng sản ở đại tràng

5. Phân loại quốc tế về các tổn thương polyp ở đại trực tràng

Nhóm quan tâm NBI về khối u ruột kết đã đưa ra một phân loại NBI mới được gọi là phân loại nội soi đại trực tràng quốc tế NBI (NICE) vào năm 2009, và các nghiên cứu xác nhận phân loại NBI mới này đã được thực hiện vào năm 2012 . Đây là phân loại NBI đầu tiên có thể được sử dụng cho cả nội soi NBI không phóng đại và phóng đại. Phân loại NICE có độ chính xác chẩn đoán cao trong việc phát hiện các tổn thương không phải ung thư không cần cắt bỏ và ung thư biểu mô xâm lấn sâu dưới niêm mạc (SM-d) cần được điều trị bằng phẫu thuật. Tuy nhiên, rất khó để phân biệt loạn sản cấp cao (HGD) hoặc ung thư biểu mô xâm lấn bề mặt dưới niêm mạc (SM-s) với loạn sản cấp thấp (loạn sản độ thấp bằng cách sử dụng phân loại NICE. Để giải quyết vấn đề này, nhóm chuyên gia NBI Nhật Bản (JNET) bao gồm các nhà nội soi đại tràng Nhật Bản đã được tổ chức vào năm 2011, và một phân loại phóng đại đại trực tràng NBI mới, phân loại JNET đã được đưa ra vào năm 2014 .

Theo hiểu biết tốt nhất của các tác giả, hầu hết các nghiên cứu xác nhận về hai phân loại NBI mới đã được tiến hành tại các trung tâm ban đầu bởi các nhà nội soi có kinh nghiệm, nhưng việc áp dụng ở các trung tâm khác nhau giữa các nhà nội soi với các kỹ năng nội soi khác nhau vẫn chưa được biết. Để đạt được giá trị bên ngoài, trong nghiên cứu của mình, các tác giả đã đánh giá ứng dụng lâm sàng và các vấn đề có thể xảy ra của phân loại NICE và JNET trong bệnh viện của các tác giả và sáu bác sĩ nội soi với các mức độ kinh nghiệm khác nhau đã tham gia vào nghiên cứu này.

Phân loại nội soi đại trực tràng
Phân loại nội soi đại trực tràng quốc tế bằng hình ảnh dải hẹp. SSL: Tổn thương răng cưa không cuống.
Tổn thương răng cưa không cuống
Phân loại của Nhóm Chuyên gia Hình ảnh Băng hẹp Nhật Bản – Phân loại JNET. SSL: Tổn thương răng cưa không cuống.

6. Vai trò của thủ thuật cắt polyp trong giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng

U tuyến đại trực tràng là một tổn thương tiền ung thư của ung thư đại trực tràng và việc cắt bỏ có thể làm giảm tỷ lệ mắc và tử vong của ung thư đại trực tràng. Do đó, ở các nước phương tây, việc cắt bỏ tất cả các polyp tuyến đã được tiêu chuẩn hóa. Trong thực hành lâm sàng, việc chẩn đoán bệnh lý của tất cả các polyp đã cắt được thực hiện thường quy và kết quả giải phẫu bệnh cuối cùng quyết định việc can thiệp theo dõi nội soi. Tuy nhiên, việc cắt bỏ tất cả các polyp và chẩn đoán bệnh lý thông thường không chỉ làm tăng rủi ro liên quan đến quá trình cắt bỏ polyp, mà còn cả chi phí của cuộc phẫu thuật và chẩn đoán bệnh lý. Do đó, chính sách không can thiệp gì hay loại bỏ đã được đề xuất. Chính sách quy định rằng tổn thương tăng sản không cần điều trị và việc điều trị các tổn thương này có thể làm tăng các tác dụng phụ của việc cắt polyp và chi phí chăm sóc y tế . Như đã báo cáo trước đây, phân loại NICE đơn giản và thiết thực trong việc xác định tổn thương tăng sản nên được để lại.. Trong nghiên cứu của các tác giả, độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác của tổn thương loại 1 phân loại NICE để chẩn đoán tổn thương tăng sản s và SSL ở cả nhóm nhóm bác sĩ nội soi có kinh nghiệm cao và bác sĩ nội soi ít kinh nghiệm là> 80%, với độ đặc hiệu và độ chính xác> 90%, không có sự khác biệt đáng kể giữa hai nhóm các nhóm. Kết quả này cho thấy các bác sĩ nội soi có thể lựa chọn kế hoạch điều trị dựa trên phân loại NICE, có thể cải thiện chiến lược cắt bỏ và loại bỏ tốt hơn.

7. Phân loại polyp có khả năng đánh giá khả năng ung thư hoá của polyp đại tràng

Nhóm nhóm bác sĩ nội soi có kinh nghiệm cao vẫn có độ đặc hiệu cao và độ chính xác> 95% khi sử dụng NICE type 3 để chẩn đoán ung thư biểu mô SM-d, và độ nhạy là 91,7%, nhưng ở nhóm bác sĩ nội soi ít kinh nghiệm độ nhạy chỉ là 83,3%. Các P giá trị của sự nhạy cảm giữa hai nhóm là 0,042 bởi Mann-Whitney U kiểm tra, và sự khác biệt giữa hai nhóm để chẩn đoán của SM-d ung thư rất đáng kể. Hayashi và cộng sự nhận thấy rằng độ nhạy của NICE loại 3 trong chẩn đoán ung thư biểu mô SM-d là 94,9%. So với nghiên cứu trên, độ nhạy của nhóm bác sĩ nội soi ít kinh nghiệm trong chẩn đoán ung thư biểu mô SM-d vẫn thấp. Kết quả này có thể liên quan đến việc thiếu kinh nghiệm chẩn đoán ung thư biểu mô SM-d trong nhóm bác sĩ nội soi ít kinh nghiệm . Do đó, các bác sĩ nội soi trong nhóm bác sĩ nội soi ít kinh nghiệm nên được đào tạo thêm để tránh bỏ sót chẩn đoán ung thư biểu mô SM-d.

Tổn thương răng cưa không cuống
Hình ảnh phân loại JNET với độ phóng đại cao

8. Vai trò của JNET với độ phóng đại cao

Để có được chẩn đoán mô học chính xác, ung thư biểu mô loạn sản độ cao hoặc SM-s nên được cắt bỏ bằng EMR / ESD toàn khối hoặc phẫu thuật thay vì EMR từng phần (pEMR). Tuy nhiên, trên thực tế lâm sàng, các tác giả không thể xác định chiến lược điều trị nội soi, chẳng hạn như pEMR, EMR / ESD nguyên khối hoặc phẫu thuật, vì NICE loại 2 khó phân biệt ung thư biểu mô loạn sản độ cao hoặc SM-s với loạn sản độ thấp. Để giải quyết vấn đề này và thống nhất các phân loại NBI hiện tại, phân loại JNET với độ phóng đại đã được đề xuất. Các nguyên tắc và đặc điểm của phân loại JNET như sau: Sự tưởng tượng là chủ yếu và cơ sở là phân loại NICE, NICE loại 2 được chia thành các loại phụ 2A và 2B bằng cách sử dụng kết quả phóng đại, bởi vì độ phóng đại không cần ước lượng màu sắc, việc phân loại không bao gồm việc tìm ra màu sắc và những phát hiện cơ bản bao gồm cả mô hình bề mặt.

9. Polyp được chẩn đoán ung thư sớm trên nội soi nhuộm màu điện tử

Kết quả của các tác giả cho thấy độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác của phân loại JNET loại 1 và 3 tương tự như loại phân loại NICE 1 và 3 trong cả nhóm nhóm bác sĩ nội soi có kinh nghiệm cao và bác sĩ nội soi ít kinh nghiệm và độ đặc hiệu của phân loại JNET loại 1 và 3 và phân loại NICE loại 3 trong cả nhóm nhóm bác sĩ nội soi có kinh nghiệm cao và bác sĩ nội soi ít kinh nghiệm đều> 95%. Độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, PPV và NPV của các tổn thương loại 2A phân loại JNET để chẩn đoán loạn sản độ thấp ở nhóm nhóm bác sĩ nội soi có kinh nghiệm cao lần lượt là 82,5%, 90,0%, 81,9%, 93,3% và 58,5% và 82,5%, 91,1%. Lần lượt là 84,5%, 96,7% và 62,1% trong nhóm bác sĩ nội soi ít kinh nghiệm. Kết quả tương tự với kết quả của Sumimoto và cộng sự.

Các tổn thương NICE type 1 và 3 và JNET type 1, 2A và 3 cho thấy khả năng chẩn đoán tuyệt vời ở cả nhóm nhóm bác sĩ nội soi có kinh nghiệm cao và bác sĩ nội soi ít kinh nghiệm. Khi mức độ tin cậy cao, chiến lược điều trị của các tổn thương NICE loại 1 và 3 và JNET loại 1, 2A và 3 có thể được xác định dựa trên kết quả kiểm tra nội soi. Các tổn thương JNET loại 2B cần phải kiểm tra thêm, chẳng hạn như soi nội soi phóng đại hoặc siêu âm nội soi, để đánh giá chính xác độ sâu xâm lấn để lựa chọn chiến lược điều trị thích hợp.

Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để được giảm ngay 20% phí khám bệnh lần đầu trên toàn hệ thống Vinmec (áp dụng từ 1/8 - 30/9/2022). Quý khách cũng có thể quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn tư vấn từ xa qua video với các bác sĩ Vinmec mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng.

689 lượt đọc

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan