......

Cảnh giác suy hô hấp cấp ở bệnh nhân ung thư

Suy hô hấp là tình trạng thường gặp ở những bệnh nhân ung thư. Biểu hiện lâm sàng ở bệnh nhân bị suy hô hấp cấp và mạn tính thường khác nhau. Suy hô hấp cấp đặc trưng bởi tình trạng rối loạn về nội môi (khí máu, kiềm toan,...), còn suy hô hấp mạn tính thường kín đáo, thậm chí nhiều trường hợp không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng.

1. Nguyên nhân suy hô hấp cấp do ung thư

1.1. Nguyên nhân tại phổi

  • Những rối loạn tại đường thở: Các khối u gây tình trạng bít tắc tại đường thở cao (ung thư vùng khoang miệng, ung thư hạ họng, ung thư thanh quản...) hoặc tại đường thở thấp (ung thư phế quản, u trung thất, ung thư di căn phổi).
  • Những tổn thương tại phế nang và mô kẽ phổi: Ung thư màng phổi, ung thư di căn màng phổi, ung thư phổi, ung thư di căn phổi, tràn khí, tràn dịch màng phổi do ung thư, xẹp phổi...
  • Những tổn thương ở mao mạch phổi như: ung thư di căn mao mạch phổi, tắc mạch phổi do ung thư di căn.

1.2. Suy hô hấp cấp do nguyên nhân ngoài phổi

  • Tổn thương tại trung tâm hô hấp: U não, ung thư di căn não, tăng áp lực nội sọ do khối u chèn ép.
  • Rối loạn dẫn truyền thần kinh cơ: Khối u ở tủy sống, cột sống gây chèn ép tủy, ung thư di căn tủy, u tuyến ức gây nhược cơ, phẫu thuật vùng bụng...
  • Bất thường ở cơ xương thành ngực: Ung thư di căn gây gãy xương sườn, các khối u ở thành ngực, ung thư di căn thành ngực...
  • Các khối u chèn ép từ ngoài vào: Khối u ở trung thất, các hạch di căn trung thất, ung thư thực quản gây chèn ép hoặc rò khí phế quản, tràn dịch ổ bụng gây đè đẩy cơ hoành,...
  • Rối loạn chuyển hóa ở những bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối: Rối loạn nước điện giải (hạ kali, tăng magie, hạ phospho máu...), hạ đường huyết, phù phổi, suy thận, yếu cơ, suy kiệt, nhiễm trùng...

Suy hô hấp nguyên nhân do phổi
Những tổn thương tại phế nang và mô kẽ phổi có thể là nguyên nhân gây suy hô hấp

1.3. Suy hô hấp do giảm oxy hóa máu và tăng cacbonic máu trong bệnh cảnh ung thư giai đoạn muộn

Giảm oxy hóa máu khi kết quả xét nghiệm PaO2 <55mmHg với FiO2 ≥0,6 do cơ chế bất tương hợp thông khí - tưới máu, shunt phổi, giảm thông khí các phế nang và rối loạn khuếch tán khí.Tăng CO2 máu khi kết quả xét nghiệm PaCO2 >45mmHg và pH <7,35, tất cả các nguyên nhân gây ra tăng nhu cầu thông khí hoặc giảm khả năng cung cấp thông khí ở bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn đều có thể gây tăng CO2 máu như: Sốt cao, nhiễm trùng, thiếu máu, suy dinh dưỡng, toan chuyển hóa, suy gan, suy thận hoặc các trường hợp mệt mỏi cơ hô hấp, teo cơ, rối loạn nước điện giải, tắc đờm, tràn dịch màng phổi, cổ trướng...

2. Bị suy hô hấp cấp có những triệu chứng điển hình gì?

2.1. Triệu chứng cơ năng

  • Suy hô hấp cấp có triệu chứng cơ năng rõ nhất là khó thở, có thể khó thở nhanh, nhịp thở >25 lần/phút, nhưng cũng có thể khó thở chậm (nhịp thở <10 lần/phút) trong trường hợp suy hô hấp nặng hoặc do khối u chèn ép trung tâm hô hấp.
  • Mức độ khó thở đôi khi không tương ứng với mức độ suy hô hấp ở những bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối suy kiệt, cần phải xét nghiệm khí máu động mạch đo độ bão hòa oxy máu để xác định mức độ.

2.2. Triệu chứng thực thể

  • Thường xanh tím ở đầu các chi, môi khi có giảm oxy hóa máu (SaO2 <85%), trường hợp tăng CO2 máu có thể gây đỏ tía da;
  • Vã mồ hôi;
  • Những triệu chứng này không đặc hiệu cho suy hô hấp cấp, có thể gặp trong các bệnh cảnh khác như: Sốc, suy tim, thiếu vitamin B1...
  • Khám phổi: Thường để xác định nguyên nhân gây suy hô hấp như: Tràn dịch màng phổi màng tim, xẹp phổi, khối u chèn ép khí phế quản, trung thất...
  • Rút lõm co kéo các cơ hô hấp phụ (rút lõm lồng ngực, cánh mũi phập phồng...) tùy theo mức độ suy hô hấp.

2.3. Triệu chứng toàn thân

Những biểu hiện toàn thân rất có giá trị trong chẩn đoán và xác định mức độ suy hô hấp: Mạch nhanh >120 lần/phút, có thể rối loạn nhịp, huyết áp tăng (suy hô hấp cấp nặng), các dấu hiệu như: rối loạn huyết động (nhịp tim chậm, tụt huyết áp), rối loạn ý thức (vật vã, kích thích hoặc hôn mê...), vã mồ hôi, thường là biểu hiện của suy hô hấp mức độ nguy kịch, đe dọa tính mạng.

Ở những bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn thậm chí người bệnh không hoặc ít có than phiền khó thở nhưng bệnh nhân đó đã bị suy hô hấp cấp nguy kịch.

Suy hô hấp
Suy hô hấp cấp có triệu chứng cơ năng rõ nhất là khó thở

3. Phân loại suy hô hấp cấp do ung thư

3.1. Suy hô hấp cấp loại nặng

Người bệnh có bệnh cảnh suy hô hấp cấp nhưng chưa có các dấu hiệu đe dọa tính mạng. Can thiệp suy hô hấp cấp nặng bằng thuốc và liệu pháp oxy là chủ yếu, có thể giải quyết được bằng thuốc và một số thủ thuật thông thường như hút đờm, chống tụt lưỡi...

3.2. Suy hô hấp cấp loại nguy kịch

Bệnh nhân có tình trạng suy hô hấp cấp nặng và có kèm theo những dấu hiệu đe dọa tính mạng như:

  • Rối loạn nhịp thở nghiêm trọng: Nhịp thở <10 lần/phút hoặc >40 lần/phút.
  • Rối loạn huyết động rõ: Tụt huyết áp, mạch nhanh.
  • Rối loạn ý thức rõ: Kích thích, vật vã hoặc lơ mơ thậm chí hôn mê.

Cần phải can thiệp ngay bằng các thủ thuật, sau đó mới dùng thuốc hoặc sử dụng đồng thời bao gồm: đặt nội khí quản, bóp bóng, thở máy...

4. Điều trị suy hô hấp cấp do ung thư

Suy hô hấp cấp là một cấp cứu nội khoa, trong những trường hợp nguy kịch cần phải xử trí cấp cứu ngay tại chỗ, tại nhà, ngay trên xe vận chuyển hoặc tại bệnh viện, vì thiếu oxy nặng rất nhanh tiến triển đến tử vong, hay mất vỏ, mất não. Phần lớn những bệnh nhân suy hô hấp cấp cần phải nhập viện ngay để điều trị có hiệu quả. Cần phải xác định rõ được mức độ trầm trọng của suy hô hấp cấp để quyết định trình tự xử trí.

4.1. Nguyên tắc điều trị

Điều trị nguyên nhân gây suy hô hấp.

Điều trị hỗ trợ hô hấp.

Xác định mức độ trầm trọng của suy hô hấp cấp dựa vào các tiêu chí sau:

  • Tính chất tiến triển của suy hô hấp cấp trên bệnh nhân;
  • Mức độ giảm của oxy máu, tăng cacbonic máu và nhiễm toan máu;
  • Mức độ rối loạn các dấu hiệu sinh tồn đi kèm: thần kinh, tim mạch...

Quyết định chọn lựa sử dụng thuốc hoặc thông khí nhân tạo ngay:

  • Với suy hô hấp cấp mức độ nặng: Cần đảm bảo đường thở, sử dụng thuốc, oxy liệu pháp và theo dõi tiến triển của bệnh.
  • Với suy hô hấp cấp nguy kịch: Nhanh chóng khai thông đường thở và tiến hành thông khí nhân tạo ngay, sau đó mới dùng thuốc hoặc tiến hành đồng thời.
thông khí nhân tạo
Trong trường hợp suy hô hấp nguy kịch, người bệnh cần được khai thông đường thở và tiến hành thông khí nhân tạo ngay

Vừa xử trí và cùng với đó tìm nguyên nhân gây suy hô hấp cấp.

4.2. Xử trí cấp cứu

Đánh giá mức độ của suy hô hấp và tìm nguyên nhân gây suy hô hấp.

Tại chỗ:

  • Nằm nghiêng an toàn cho người bệnh hôn mê mà chưa được can thiệp; nằm ngửa ưỡn cổ cho người bệnh ngừng thở, ngừng tim; nằm tư thế Fowler cho người bệnh có phù não do u não chèn ép hoặc các trường hợp suy hô hấp cấp do nguyên nhân tại phổi.
  • Thở oxy 2-4 lít/phút qua mũi.
  • Những bệnh nhân ngừng thở, hôn mê có tụt lưỡi: đặt canuyn Guedel hay Mayo, hút sạch miệng, thổi ngạt miệng - mũi hay miệng - miệng (12-15 lần/phút).
  • Bóp bóng Ambu có lượng oxy 4-6 lít/phút cho tới khi có hỗ trợ.
  • Vận chuyển bệnh nhân tới bệnh viện, phòng cấp cứu hay hồi sức tích cực.

Trong khi vận chuyển:

  • Với bệnh nhân còn tỉnh: Để bệnh nhân ngồi hoặc nằm.
  • Với bệnh nhân hôn mê: Đặt canuyn Mayo tránh tụt lưỡi, đặt ống nội khí quản, bơm bóng chèn tránh sặc dịch dạ dày vào phổi. Tuy nhiên, lưu ý những trường hợp ung thư vùng khoang miệng, hạ họng thanh quản thường gây chít hẹp khí quản nên việc đặt nội khí quản thường khó khăn. Trong những tình huống này nên cân nhắc việc chọc kim lớn qua màng nhẫn giáp.
  • Bóp bóng hỗ trợ hoặc thở máy có lượng oxy 4-8 lít/phút.
  • Sử dụng thuốc giãn phế quản duy trì qua khí dung hay truyền tĩnh mạch: salbutamol, terbutalin 5mg xịt họng hoặc khí dung 3-4 lần/ngày, hoặc pha trong nước muối NaCl 0,9%, truyền tĩnh mạch liên tục qua bơm tiêm điện liều 0,5mg/giờ.
  • Nếu suy hô hấp do sốc phản vệ (thuốc, hóa chất...): sử dụng adrenalin 1mg từ 1/2 đến 1 ống tiêm bắp hoặc tĩnh mạch, sau đó pha truyền tĩnh mạch liên tục liều 0,01mg/kg.
  • Trong trường hợp khối u ở não chèn ép gây tăng áp lực nội sọ: sử dụng manitol 20%, truyền tĩnh mạch với liều 1-1,5g/kg trong 30 phút sau đó nhắc lại 4-6 giờ; dexamethason liều 10-20mg tiêm tĩnh mạch hoặc synacthen liều 1mg/ngày tiêm bắp sâu.
  • Trường hợp khối u chèn ép khí phế quản, trung thất hoặc phù nề thanh môn: methylprednisolon liều 0.5-1mg/kg tiêm tĩnh mạch.
  • Người bệnh có ho ra máu, đau ngực: morphin liều 10mg tiêm bắp, các thuốc giảm đau khác: paracetamol 500mg uống 4-6 viên/ngày hoặc ultracet (paracetamol + tramadol) uống 4-6 viên/ngày.

Tại bệnh viện:

Cần nhanh chóng xác định nguyên nhân gây suy hô hấp

Đảm bảo oxy máu:

  • Thở oxy lưu lượng cao: Thở oxy qua Mask lưu lượng 10-12 lít/phút hoặc thở oxy 100% qua nội khí quản.
  • Trường hợp người bệnh ung thư có kèm theo bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) cần tránh làm nặng thêm tình trạng toan hô hấp (tăng CO2) bằng cách bắt đầu từ lưu lượng oxy thấp nhất (khoảng 1-3 lít/phút) rồi tăng dần có đánh giá, theo dõi khí máu trước khi quyết định tăng oxy khí thở vào.
Thở oxy
Khi ở bệnh viện, người bệnh cần được đảm bảo oxy trong máu thông qua việc thở oxy lưu lượng cao

Khai thông đường thở:

  • Vận động trị liệu giúp người bệnh ho khạc đờm, hút đờm hầu họng nếu cần.
  • Đặt ống nội khí quản được bác sĩ chỉ định khi suy hô hấp cấp nặng và nguy kịch.
  • Mở khí quản được chỉ định ở người bệnh phải thở máy kéo dài (khối u hạ họng thanh quản, khoang miệng), u tuyến ức gây nhược cơ, hôn mê ở người bệnh u não có phù não, tăng áp lực nội sọ và liệt cơ hô hấp, những bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn có nhiễm khuẩn nặng, viêm phổi nặng, rối loạn chuyển hóa và kèm theo các bệnh lý nội khoa nặng

Thông khí nhân tạo:

  • Thông khí nhân tạo không xâm nhập (BiPAP): ở những người bệnh có thể bảo vệ và duy trì được sự thông thoáng của đường thở, ho khạc tốt, thích nghi tốt được với thông khí nhân tạo không xâm nhập mà không cần phải đặt nội khí quản hay mở khí quản.
  • Thông khí nhân tạo xâm nhập qua nội khí quản hay mở khí quản: ở những người bệnh ngừng thở, không có khả năng bảo vệ đường thở, cần phải sử dụng thuốc an thần mạnh, không có khả năng ho khạc, tắc nghẽn đường hô hấp trên, toan hô hấp nặng, giảm thông khí tiến triển, giảm oxy máu, trơ với oxy liệu pháp.

Chỉ định thông khí nhân tạo khi: tần số thở >35 lần/phút hay <10 lần/phút; NIF (Áp lực âm cuối thì hít vào) ≤ -20cmH2O; PaO2 <60mmHg; pH<7,25; PaCO2 ≥55mmHg. Tiến hành cài đặt các thông số ban đầu: FiO2 =100%; Vt=10ml/kg; f =12-14; I/E =1/2.

4.3. Điều trị nguyên nhân gây suy hô hấp cấp

Cần tiến hành điều trị các nguyên nhân gây suy hô hấp cấp đồng thời cùng với việc xử trí cấp cứu tình trạng suy hô hấp nếu có thể.

Với suy hô hấp có nguyên nhân do các bệnh lý ung thư tại đường hô hấp và phổi:

  • Phẫu thuật cắt bỏ, xạ trị những khối u chèn ép.
  • Đặt stent khí quản giải phóng chèn ép.
  • Chọc tháo dẫn lưu tràn dịch màng phổi, màng bụng, màng tim.
  • Liệu pháp corticoid chống chèn ép, chống viêm: methylprednisolon liều 0,5-1,5mg/kg tiêm tĩnh mạch.
  • Liệu pháp kháng sinh chống nhiễm khuẩn: cephalosporin liều 2-4g/ngày phối hợp với quinolon.
  • Điều trị nguyên nhân khi tình trạng suy hô hấp đã ổn định.

Với suy hô hấp có nguyên nhân do các bệnh lý ung thư ngoài phổi:

  • Điều trị toàn thân đối với những ung thư di căn phổi;
  • Giảm áp lực nội sọ cho các khối u não: Thuốc, phẫu thuật, xạ trị, xạ phẫu...
  • Chọc dịch cổ trướng để làm giảm áp lực ổ bụng;
  • Chống chèn ép tủy đối với những khối u vùng tủy sống: phẫu thuật, xạ trị, xạ phẫu...
  • Điều chỉnh tình trạng rối loạn nước điện giải, chống loét dinh dưỡng nâng cao thể trạng đối với người bệnh ung thư giai đoạn muộn;
  • Điều trị các bệnh lý nội khoa kèm theo: thiếu máu, suy tim, suy thận, suy gan, tăng huyết áp, nhược cơ, đột quỵ...

Tóm lại, suy hô hấp ở bệnh nhân ung thư là tình trạng cần được điều trị ngay để ngăn ngừa biến chứng nguy hiểm. Hiện nay, sàng lọc ung thư sớm được coi là biện pháp hoàn hảo trong việc phát hiện và điều trị kịp thời các loại ung thư. Giảm chi phí điều trị và nhất là giảm tỷ lệ tử vong ở người bệnh. Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec luôn triển khai và giới thiệu tới khách hàng Sàng lọc ung thư sớm tại Vinmec - An tâm sống khỏe giúp xét nghiệm gen, chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm các chất chỉ thị sinh học phát hiện khối u sớm. Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec có nhiều gói sàng lọc ung thư sớm.

  • Chỉ một lần xét nghiệm gen có thể đánh giá về nguy cơ mắc của 16 loại ung thư phổ biến ở cả nam và nữ (Ung thư phổi, ung thư đại trực tràng, ung thư vú, ung thư tuyến tụy, ung thư cổ tử cung, ung thư dạ dày, ung thư tiền liệt tuyến,....)
  • Phát hiện sớm các dấu hiệu manh nha của ung thư thông qua chẩn đoán hình ảnh, nội soi và siêu âm.
  • Thao tác khám đơn giản, cẩn thận và chính xác.
  • Đội ngũ chuyên gia được đào tạo bài bản nghề, đặc biệt là về ung thư, đủ khả năng làm chủ các ca khám chữa ung thư.

Với trang bị cơ sở vật chất, thiết bị y tế tiên tiến và hiện đại và đội ngũ bác sĩ có chuyên môn sâu và kinh nghiệm dày dặn. Tại Vinmec, quá trình thăm khám trở nên nhanh chóng với kết quả chính xác, tiết kiệm chi phí và thời gian cho người bệnh.

Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng.

1.3K

Bài viết liên quan