......

Các yếu tố nguy cơ của ung thư đại tràng

Ung thư đại tràng thường xuất hiện ở người lớn tuổi, mặc dù nó có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Bệnh thường bắt đầu như những khối tế bào nhỏ, lành tính được gọi là polyp hình thành ở bên trong đại tràng. Theo thời gian một số polyp này có thể trở thành ung thư ruột kết. Vậy nguy cơ gây ung thư đại tràng nào khiến tăng khả năng mắc loại ung thư này?

1. Yếu tố nguy cơ ung thư đại trực tràng có thể thay đổi

Nhiều yếu tố liên quan đến lối sống có liên quan đến ung thư đại trực tràng. Trên thực tế, mối liên hệ giữa chế độ ăn uống, cân nặng, tập thể dục và nguy cơ ung thư đại trực tràng là một trong những yếu tố mạnh nhất đối với bất kỳ loại ung thư nào.

  • Thừa cân hoặc béo phì

Nếu bạn thừa cân hoặc béo phì sẽ có nguy cơ phát triển và tử vong do ung thư đại trực tràng sẽ cao hơn những người có cân nặng bình thường. Thừa cân (đặc biệt là có vòng eo lớn hơn) làm tăng nguy cơ ung thư đại tràng và trực tràng ở cả nam và nữ, nhưng mối liên kết dường như mạnh hơn ở nam giới.

  • Không tập thể dục

Nếu bạn không hoạt động thể chất, bạn có nhiều khả năng bị ung thư ruột kết. Do đó, tập thể dục hoặc hoạt động thể chất tích cực hơn có thể giúp giảm nguy cơ của bạn.

  • Một số loại chế độ ăn kiêng

Chế độ ăn nhiều thịt đỏ (như thịt bò, thịt lợn, thịt cừu hoặc gan) và các loại thịt chế biến sẵn (như xúc xích và một số loại thịt hộp) làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng.

Nấu thịt ở nhiệt độ rất cao (chiên, nướng hoặc quay) sẽ tạo ra các hóa chất có thể làm tăng nguy cơ ung thư. Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra liệu yếu tố này có thể làm tăng bao nhiêu nguy cơ ung thư đại trực tràng. Và liệu các thành phần chế độ ăn uống khác (ví dụ, một số loại chất béo) có ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư đại trực tràng hay không.

  • Hút thuốc lá

Những người đã hút thuốc lá trong một thời gian dài có nguy cơ mắc bệnh và tử vong vì ung thư đại trực tràng cao hơn so với những người không hút thuốc. Hút thuốc là một nguyên nhân hàng đầu của ung thư phổi, nhưng nó cũng liên quan đến rất nhiều bệnh ung thư khác.

  • Nghiện rượu nặng

Ung thư đại trực tràng có liên quan đến việc sử dụng rượu ở mức độ vừa đến nặng. Hạn chế sử dụng rượu bia không quá 2 ly mỗi ngày đối với nam giới và 1 ly mỗi ngày đối với phụ nữ có thể mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe, bao gồm giảm nguy cơ mắc nhiều loại ung thư.

Ung thư đại trực tràng
Yếu tố nguy cơ ung thư đại trực tràng có thể thay đổi

2. Yếu tố nguy cơ gây ung thư đại trực tràng không thể thay đổi

  • Lớn tuổi hơn

Nguy cơ ung thư đại trực tràng tăng lên theo tuổi. Những người trẻ hơn cũng có thể mắc bệnh này, nhưng ung thư đại trực tràng phổ biến hơn nhiều sau 50 tuổi.

  • Có polyp đại trực tràng hoặc ung thư đại trực tràng

Nếu có tiền sử mắc polyps tuyến (Adenomatous polyps) thì bạn có nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng. Điều này đặc biệt đúng nếu bạn có polyp với số lượng nhiều hoặc kích thước lớn hoặc nếu bất kỳ trong số chúng có loạn sản.

Nếu bạn đã bị ung thư đại trực tràng, mặc dù ung thư đã được loại bỏ hoàn toàn thì bạn vẫn có nhiều khả năng phát triển bệnh ung thư mới ở các phần khác của đại tràng và trực tràng. Khả năng này xảy ra sẽ lớn hơn nếu bạn bị ung thư đại trực tràng khi còn trẻ tuổi.

  • Tiền sử bệnh viêm ruột (inflammatory bowel disease)

Nếu bạn bị bệnh viêm ruột (IBD), bao gồm cả viêm loét đại tràng hoặc bệnh Crohn, nguy cơ ung thư đại trực tràng của bạn sẽ tăng lên.

IBD là tình trạng đại tràng bị viêm trong một thời gian dài. Những người đã bị IBD trong nhiều năm, đặc biệt là nếu không được điều trị, thường phát triển thành chứng loạn sản. Chứng loạn sản là một thuật ngữ được sử dụng để mô tả các tế bào trong niêm mạc đại tràng hoặc trực tràng bất thường, nhưng không phải là tế bào ung thư thực sự. Tuy nhiên, theo thời gian, các tế bào này có thể thay đổi thành ung thư thực sự.

  • Tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư đại trực tràng hoặc polyp tuyến

Hầu hết các bệnh ung thư đại trực tràng được tìm thấy ở những người không có tiền sử gia đình mắc ung thư đại trực tràng. Tuy nhiên, gần 1 trong 3 người bị ung thư đại trực tràng có các thành viên khác trong gia đình đã mắc bệnh này.

Những người có tiền sử ung thư đại trực tràng ở người thân trực hệ (cha mẹ, anh chị em hoặc con cái) có nguy cơ cao hơn. Nguy cơ thậm chí còn cao hơn nếu người thân đó được chẩn đoán mắc bệnh ung thư khi họ dưới 45 tuổi hoặc nếu có nhiều hơn một người thân độ một bị mắc bệnh này.

Nguyên nhân cho sự gia tăng nguy cơ không rõ ràng trong mọi trường hợp. Ung thư có thể di truyền trong gia đình vì các gen được di truyền, sống chung trong một môi trường hoặc một số trường hợp là sự kết hợp giữa các yếu tố nguy cơ lại với nhau.

Có thành viên gia đình đã có polyp tuyến cũng có liên quan đến nguy cơ ung thư ruột kết cao hơn. Nếu bạn có tiền sử gia đình mắc bệnh polyp tuyến hoặc ung thư đại trực tràng, hãy nói chuyện với bác sĩ về việc có thể bắt đầu sàng lọc ung thư trước tuổi 45.

polyp đại tràng
Nếu có tiền sử mắc polyps tuyến (Adenomatous polyps) thì bạn có nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng
  • Có hội chứng di truyền

Khoảng 5% những người bị ung thư đại trực tràng đã di truyền những thay đổi gen (đột biến) gây ra hội chứng ung thư gia đình cho thế hệ sau và có thể khiến con cái họ mắc bệnh.

Các hội chứng di truyền phổ biến nhất liên quan đến ung thư đại trực tràng là hội chứng Lynchhội chứng polyp gia đình (Familial adenomatous Polyposis), các hội chứng hiếm gặp khác cũng có thể làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng.

  • Hội chứng Lynch

Hội chứng Lynch là hội chứng ung thư đại trực tràng di truyền phổ biến nhất. Nó chiếm khoảng 2% đến 4% trong tất cả các loại ung thư đại trực tràng. Trong hầu hết các trường hợp, rối loạn này là do khiếm khuyết di truyền ở gen MLH1 hoặc MSH2, nhưng những thay đổi ở các gen khác cũng có thể gây ra hội chứng Lynch.

Các bệnh ung thư liên quan đến hội chứng này có xu hướng phát triển khi mọi người khá trẻ. Những người mắc hội chứng Lynch có thể có polyp, nhưng xu hướng chỉ có một số ít trường hợp mới có. Nguy cơ suốt đời của ung thư đại trực tràng ở những người mắc bệnh này có thể lên tới 80%, nhưng điều này phụ thuộc vào gen nào bị ảnh hưởng.

Phụ nữ mắc bệnh này cũng có nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung rất cao. Các bệnh ung thư khác liên quan đến hội chứng Lynch bao gồm ung thư buồng trứng, dạ dày, ruột non, tuyến tụy, thận, tuyến tiền liệt, , não, niệu quản và ống mật.

  • Hội chứng polyp gia đình (Familial adenomatous Polyposis - FAP)

Nguyên nhân của FAP là do những thay đổi (đột biến) trong gen APC mà một người được thừa hưởng từ cha mẹ của mình. Khoảng 1% của tất cả các bệnh ung thư đại trực tràng là do FAP.

Trong loại FAP phổ biến nhất thường bắt đầu từ 10 đến 12 tuổi, người bệnh sẽ có hàng trăm hoặc hàng ngàn polyp phát triển trong đại tràng và trực tràng. Ung thư thường phát triển ở 1 hoặc nhiều polyp này ngay từ tuổi 20. Đến 40 tuổi, hầu hết những người mắc FAP sẽ bị ung thư đại tràng trừ khi đại tràng của họ đã bị cắt bỏ để ngăn chặn ung thư. Những người mắc FAP cũng tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư dạ dày, ruột non, tuyến tụy, gan và một số cơ quan khác.

Các hội chứng di truyền hiếm gặp liên quan đến ung thư đại trực tràng

  • Hội chứng Peutz-Jeghers (PJS): Những người mắc bệnh di truyền này có xu hướng bị tàn nhang quanh miệng (và đôi khi trên tay và chân) và một loại polyp đặc biệt gọi là hamartomas trong đường tiêu hóa của họ. Những người này có nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng cao hơn nhiều, cũng như các bệnh ung thư khác và họ thường được chẩn đoán ở độ tuổi trẻ hơn so với tuổi bình thường. Hội chứng này do đột biến gen STK11 (LKB1).
  • Bệnh đa nang liên quan đến MYH (MAP): Những người mắc hội chứng này phát triển nhiều polyp đại tràng và chúng hầu như sẽ trở thành ung thư nếu như không được theo dõi chặt chẽ bằng nội soi thương quy. Những người này cũng có nguy cơ mắc các bệnh ung thư khác về đường tiêu hóa và tuyến giáp. Hội chứng này do đột biến gen MYH và thường gây ung thư ở những người trẻ.

Do có nhiều hội chứng di truyền liên quan đến ung thư đại trực tràng khi còn trẻ và cũng liên quan đến các loại ung thư khác, vì vậy việc xác định các gia đình có các hội chứng di truyền này là rất quan trọng. Nó cho phép các bác sĩ đề xuất các bước cụ thể như sàng lọc và các biện pháp phòng ngừa khác ở người trẻ tuổi.

Bị tiểu đường type 2

Những người mắc bệnh tiểu đường type 2 có nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng. Cả bệnh tiểu đường type 2 và ung thư đại trực tràng đều có một số yếu tố nguy cơ chung như như thừa cân và không hoạt động thể chất. Nhưng ngay cả sau khi tính đến các yếu tố này, những người mắc bệnh tiểu đường type 2 vẫn có nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng gia tăng hơn so với những người không mắc bệnh tiểu đường. Ngoài ra, những đối tượng này thường có xu hướng tiên lượng xấu hơn sau khi được chẩn đoán ung thư.

Khám sàng lọc ung thư đường tiêu hoá là biện pháp khoa học và hiệu quả để phát hiện sớm ung thư đường tiêu hóa (ung thư thực quản, ung thư dạ dày, ung thư đại tràng) và đưa ra phác đồ điều trị tốt nhất. Hiện tại, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec có Gói tầm soát và phát hiện sớm ung thư đường tiêu hóa (thực quản - dạ dày - đại tràng) kết hợp khám lâm sàng và cận lâm sàng để đem lại kết quả chính xác nhất có thể.

Khi sàng lọc ung thư đường tiêu hóa tại Vinmec, Quý khách sẽ được:

  • Khám Chuyên khoa Nội tiêu hóa với bác sĩ chuyên khoa ung bướu (có hẹn).
  • Nội soi dạ dày và nội soi đại tràng với máy nội soi NBI có gây mê.
  • Xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu ngoại vi (bằng máy đếm laser).
  • Xét nghiệm thời gian prothrombin bằng máy tự động.
  • Xét nghiệm thời gian thrombin bằng máy tự động.
  • Xét nghiệm thời gian thromboplastin một phần hoạt hoá (APTT: Activated Partial Thromboplastin Time) bằng máy tự động.
  • Siêu âm ổ bụng tổng quát

Để đăng ký sàng lọc và điều trị các bệnh lý đường tiêu hóa tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec, Quý Khách có thể liên hệ Hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc, hoặc đăng ký khám trực tuyến TẠI ĐÂY.

Nguồn tham khảo:cancer.org, mayoclinic.org, cdc.gov, cdc.gov

758 lượt đọc

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan