......

Tìm hiểu về lọc máu tĩnh mạch

Lọc máu tĩnh mạch là một trong những phương pháp điều trị bệnh nhân suy thận. Trong đó, máu của một người bệnh được bơm vào một quả lọc gồm có hai ngăn chứa dịch được cấu tạo như các lớp màng bán thấm song song hoặc các bó ống sợi mao mạch rỗng.

1. Lọc máu tĩnh mạch

Lọc máu tĩnh mạch là một trong những phương pháp điều trị suy thận. Trong đó, máu của người bệnh sẽ được bơm vào một quả lọc gồm có hai ngăn chứa dịch được cấu tạo như các lớp màng bán thấm song song hoặc những bó ống sợi mao mạch rỗng. Ở một trong hai phần, máu trong khoang đầu tiên sẽ được bơm dọc theo một bên của màng bán thấm, trong khi đó dịch lọc tinh thể lại được bơm trong một khoang riêng theo hướng ngược lại dọc theo phía bên kia.

Chênh lệch nồng độ của chất tan giữa máu và dịch lọc sẽ tạo ra những thay đổi mong muốn của chất tan trong huyết thanh người bệnh, ví dụ như tăng bicarbonate, giảm urê và creatinine và cân bằng lại natri, kali, clo và magie. Áp lực trong khoang dịch lọc có áp lực âm tương đối so với áp lực khoang máu và khoang dịch lọc có áp lực thẩm thấu cao hơn nhằm ngăn sự siêu lọc của dịch lọc vào trong máu và giúp đào thải lượng dịch dư thừa bên trong cơ thể của bệnh nhân. Máu được lọc qua máy lọc sau đó sẽ được trả lại về cơ thể cho người bệnh.

Bệnh nhân thường được sử dụng thuốc chống đông toàn thân trong quá trình lọc máu để ngăn ngừa đông máu trong máy lọc máu. Tuy nhiên, lọc máu cũng có thể được thực hiện với thuốc chống đông sử dụng tại chỗ trong tuần hoàn máy lọc (như heparin hoặc trisodium citrate) hoặc xả dịch nước muối từ 50-100 ml trong 15 đến 30 phút sẽ làm sạch các cục máu đông trong tuần hoàn máy lọc.

2. Mục tiêu của lọc máu


Mục tiêu gần của lọc máu đó là:

  • Cân bằng dịch và điện giải
  • Loại bỏ chất độc

Mục tiêu dài hạn ở bệnh nhân suy thận đó là

  • Tối ưu hóa chức năng của người bệnh, huyết áp và sự thoải mái.
  • Ngăn ngừa biến chứng của hội chứng ure máu tăng cao
  • Kéo dài sự sống
Lọc máu liên tục giúp kéo dài sự sống cho người bệnh
Lọc máu liên tục giúp kéo dài sự sống cho người bệnh

Liều lượng tối ưu trong một quy trình lọc máu là không xác định, nhưng hầu hết các bệnh nhân đều thoải mái với ca lọc từ 3 đến 5 giờ/lần và 3 lần/tuần. Một cách để đánh giá sự đầy đủ của mỗi ca lọc máu bằng cách đo BUN trước và sau mỗi lần lọc máu. Giảm ≥ 65% lượng urea nitrogen máu so với trước lọc máu ([urea nitrogen trước lọc máu − urea nitrogen sau lọc máu] / urea nitrogen trước lọc máu × 100% ≥ 65%) cho thấy kết quả một ca lọc máu đầy đủ và hiệu quả. Bên cạnh đó, các bác sĩ có thể sử dụng các công thức khác nhiều tính toán hơn, như KT/V ≥ 1.2 (trong đó K là độ thanh thải ure của quả lọc với đơn vị mL/phút, V là thể tích phân bố urê [tương đương với tổng lượng nước trong cơ thể] tính bằng mL và T là thời gian lọc tính bằng phút). Liều lượng lọc máu có thể tăng lên bằng cách thay đổi làm tăng lưu lượng máu, thời gian lọc máu, diện tích bề mặt màng lọc và độ xốp của màng lọc của máy lọc. Những ca lọc máu vào ban đêm (6-8 giờ, 3 đến 6 ngày/ tuần) và ca lọc máu ngắn kéo dài từ 1,5 đến 2,5 giờ hàng ngày, nếu có, sẽ được lựa chọn có chọn lọc cho những bệnh nhân có bất kỳ biểu hiện nào sau đây:

  • Tăng quá nhiều dịch giữa các lần lọc máu
  • Hạ huyết áp liên tục trong quá trình lọc máu
  • Huyết áp kiểm soát kém
  • Tăng phospho máu khó kiểm soát

3. Các đường vào trong lọc máu tĩnh mạch

3.1 Catheter tĩnh mạch trung tâm

Catheter tĩnh mạch trung tâm là một đường vào được sử dụng để lọc máu nếu người bệnh chưa có thông động tĩnh mạch hoặc thông động tĩnh mạch chưa trưởng thành hay người bệnh không thể phẫu thuật tạo thông động tĩnh mạch được. Những nhược điểm chính của catheter tĩnh mạch trung tâm đó là có đường kính tương đối hẹp và không cho phép lưu lượng dòng máu đủ lớn cho thanh thải tối ưu, bên cạnh đó có nguy cơ nhiễm trùng vị trí đặt catheter cao và tạo huyết khối.

Đặt catheter tĩnh mạch trung tâm cho bệnh nhân lọc máu tốt nhất nên được thực hiện sử dụng tĩnh mạch cảnh trong phải. Hầu hết là những catheter tĩnh mạch cảnh trong, nếu chăm sóc da chống nhiễm khuẩn tốt và nếu catheter được sử dụng chỉ cho lọc máu còn có thể sử dụng được từ 2 đến 6 tuần. Catheter đường hầm dưới da và có thời gian sử dụng cao hơn (từ 29% đến 91% còn chức năng sau 1 năm) và có thể hữu ích cho những bệnh nhân không thể phẫu thuật tạo thông động tĩnh mạch.

3.2 Phẫu thuật tạo thông động tĩnh mạch

Phẫu thuật tạo thông động tĩnh mạch (FAV) tốt hơn so với phương pháp đặt catheter tĩnh mạch trung tâm. Bởi vì phẫu thuật tạo thông động tĩnh mạch có thời gian sử dụng lâu hơn và ít bị nhiễm trùng hơn. Tuy nhiên, tạo thông động tĩnh mạch cũng có xu hướng bị biến chứng như nhiễm trùng, huyết khối, phình mạch hoặc giả phình mạch. Một thông động tĩnh mạch mới được phẫu thuật có thể phải mất từ 2 cho tới 3 tháng để trưởng thành và có thể sử dụng lọc máu được. Tuy nhiên, có thể phải cần thêm thời gian để sửa lại thông động tĩnh mạch, do vậy các bệnh nhân bệnh thận mạn tốt nhất nên được mổ thông động tĩnh mạch ít nhất 6 tháng trước khi cần lọc máu. Phẫu thuật nối thông động mạch cánh tay, động mạch quay hoặc động mạch đùi với tĩnh mạch gần kề theo kỹ thuật tĩnh mạch động mạch tận bên. Khi tĩnh mạch liền kề không phù hợp cho phẫu thuật, có thể sử dụng một mạch nhân tạo. Đối với những người bệnh có tĩnh mạch yếu, có thể phẫu thuật sử dụng tĩnh mạch dưới da tự thân cũng là một phương pháp được lựa chọn.

Phẫu thuật tạo thông động tĩnh mạch
Phẫu thuật tạo thông động tĩnh mạch trong lọc máu tĩnh mạch

4. Biến chứng khi lọc máu tĩnh mạch

4.1 Những biến chứng của đường vào mạch máu

Những biến chứng của đường vào mạch máu trong lọc máu tĩnh mạch bao gồm:

  • Nhiễm trùng
  • Hẹp
  • Huyết khối (thường trong đoạn hẹp)
  • Phình mạch hoặc giả phình mạch

Những biến chứng của đường vào mạch máu sẽ làm hạn chế đáng kể chất lượng lọc máu làm tăng gánh nặng lâu dài và tỷ lệ tử vong. Những biến chứng này đủ để các bệnh nhân và bác sĩ nên thận trọng với các dấu hiệu gợi ý bao gồm đau, phù, đỏ da, phá vỡ cấu trúc da trên thông động tĩnh mạch, không có tiếng thổi và nhịp mạch tại thông động tĩnh mạch, hematome quanh thông động tĩnh mạch và chảy máu kéo dài tại vị trí chọc kim để lọc máu. Nhiễm trùng được điều trị bằng kháng sinh, phẫu thuật hoặc kết hợp cả hai.

Phẫu thuật tạo thông động tĩnh mạch được theo dõi nhằm phát hiện các biểu hiện, dấu hiệu nguy cơ thất bại bằng cách đánh giá lưu lượng máu pha loãng liên tiếp trên siêu âm doppler, các kỹ thuật pha loãng ure hoặc nhiệt độ hoặc đo áp suất thủy tĩnh khoang tĩnh mạch. Một trong những xét nghiệm trên thường được khuyến cáo người bệnh làm xét nghiệm ít nhất một tháng/lần. Điều trị các biến chứng như huyết khối, hẹp, giả phình hoặc phình mạch có thể bao gồm những phương pháp như nong mạch, đặt stent hoặc phẫu thuật.

4.2 Các biến chứng của lọc máu

Biến chứng phổ biến nhất của lọc máu đó là hạ huyết áp. Hạ huyết áp có nhiều nguyên nhân bao gồm rút nước quá nhanh, giãn mạch do nhiệt, nhiễm acetat trong dịch lọc, sự dịch chuyển dịch thẩm thấu qua màng tế bào, phản ứng dị ứng, nhiễm khuẩn huyết và các bệnh đang mắc (ví dụ như bệnh thần kinh tự động, nhồi máu cơ tim và rối loạn nhịp tim, bệnh cơ tim với phân số tống máu thấp).

Các biến chứng thường gặp khác bao gồm:

  • Hội chứng chân không yên
  • Chuột rút
  • Ngứa
  • Buồn nôn và nôn
  • Đau đầu
  • Đau ngực và lưng

Trong hầu hết các trường hợp lọc máu, các biến chứng này xảy ra đều không rõ nguyên nhân, nhưng một số trường hợp có thể là do hội chứng lọc lần đầu (khi máu của bệnh nhân lần đầu tiếp xúc với màng cellulose hoặc màng cuprophane trong quả lọc) hoặc hội chứng mất cân bằng. Một hội chứng được cho là do đào thải lượng ure quá nhanh và các chất thẩm thấu (osmolyte) khác từ huyết thanh dẫn tới sự vận chuyển dịch thẩm thấu vào trong nhu mô não. Các trường hợp nặng hơn của hội chứng mất cân bằng biểu hiện như rối loạn định hướng, nhìn mờ, bồn chồn, lú lẫn, co giật và thậm chí là tử vong.

Thoái hóa bột liên quan lọc máu ảnh hưởng đến các bệnh nhân đã lọc máu nhiều năm và biểu hiện như hội chứng ống cổ tay, viêm khớp, viêm cột sống dính khớp và nang xương. Thoái hóa bột liên quan đến lọc máu được cho rằng ít gặp hơn với quả lọc high-flux được sử dụng rộng rãi hiện nay vì beta-2 microglobulin được lọc hiệu quả hơn khi sử dụng các quả lọc loại này.

Tóm lại, người bệnh bị suy giảm chức năng thận cần được lọc máu liên tục. Có nhiều phương pháp lọc máu, trong đó lọc máu qua tĩnh mạch là biện pháp được sử dụng khá phổ biến và đem lại hiệu quả. Khi đó máu của người bệnh sẽ được bơm vào một quả lọc gồm có hai ngăn chứa dịch được cấu tạo như các lớp màng bán thấm song song hoặc những bó ống sợi mao mạch rỗng. Tuy nhiên, mỗi người bệnh sẽ có những phương pháp siêu lọc máu khác nhau phù hợp với tình trạng bệnh.

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là cơ sở y tế chất lượng cao tại Việt Nam với đội ngũ y bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, được đào tạo bài bản, chuyên sâu trong nước và nước ngoài, giàu kinh nghiệm.

Hệ thống thiết bị y tế hiện đại, tối tân, sở hữu nhiều máy móc tốt nhất trên thế giới giúp phát hiện ra nhiều căn bệnh khó, nguy hiểm trong thời gian ngắn, hỗ trợ việc chẩn đoán, điều trị của bác sĩ hiệu quả nhất. Không gian bệnh viện được thiết kế hiện đại, nhưng vẫn mang đến cho người bệnh sự thoải mái, thân thiện, yên tâm như ở tại nhà mình.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

Nguồn tham khảo; msdmanuals.com

594 lượt đọc

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan