......

Khi nghi ngờ lao hạch cần làm những phương pháp chẩn đoán nào?

Ung thư hạch

Lao hạch là một thể lao nhẹ, ít nguy hiểm đến tính mạng của người bệnh và điều trị có kết quả tốt nếu được chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời, đúng nguyên tắc thì không để lại di chứng.

1. Lao hạch là gì?

Lao hạch là một loại của bệnh lao khá phổ biến. Lao hạch thường xuất hiện ở cổ, nách, bẹn. Nguyên nhân gây bệnh là do vi khuẩn lao xâm nhập qua vùng họng, Amydal lan tràn đến hạch hoặc vi khuẩn lao lan đến hạch từ một ổ lao có từ thời kỳ tiên phát qua đường máu, đường bạch huyết, đường tiếp cận. Có nhiều thể lao hạch như:

  • Lao hạch bã đậu: Thể thường hay gặp nhất
  • U hạch lao: Là hạch lao đơn độc, to với mật độ chắc, không đau, xơ cứng.
  • Thể viêm nhiều hạch: Hay gặp ở những người bị HIV/AIDS với bệnh cảnh viêm nhiều nhóm hạch ở toàn thân.
  • Lao hạch kết hợp cùng lao ở các bộ phận khác: Lao hạch có thể kết hợp với lao sơ nhiễm, lao các màng hoặc lao phổi...

Triệu chứng của lao hạch thường sưng to dần, không đau, mật độ hơi chắc, mặt nhẵn, không nóng, vùng hạch sưng to da không tấy đỏ. Thường có nhiều hạch cùng bị sưng, tập hợp thành một chuỗi, tuy nhiên cũng có khi chỉ gặp một hạch đơn độc sưng to, không đau. Tuy nhiên hạch lao có thể phát triển qua các giai đoạn sau:

  • Giai đoạn đầu: Hạch bắt đầu sưng to, các hạch to nhỏ không đều, chưa dính vào nhau và di động.
  • Giai đoạn sau: Hạch có thể dính vào với nhau thành mảng, hoặc dính vào da và các tổ chức xung quanh làm hạn chế di động.
  • Giai đoạn nhuyễn hoá: Hạch sẽ mềm dần, da vùng hạch sưng tấy đỏ, không nóng và không đau. Trường hợp hạch hóa mủ thì dễ vỡ.
  • Ở những người nhiễm HIV/AIDS, nếu bị lao hạch thì sẽ có triệu chứng hạch to toàn thân kèm theo tiêu chảy kéo dài, nhiễm nấm Candida, mụn rộp zona,.. ở da
Lao hạch
Triệu chứng của lao hạch thường sưng to dần, không đau, mật độ hơi chắc, mặt nhẵn, không nóng, vùng hạch sưng to da không tấy đỏ

2. Khi nghi ngờ lao hạch cần làm những phương pháp chẩn đoán nào?

Khi nghi ngờ bị lao hạch, người bệnh sẽ cần làm những phương pháp sau để chẩn đoán lao hạch:

  • Chọc hút hạch: Đây là xét nghiệm đầu tiên trong chẩn đoán lao hạch ngoại biên. Những trường hợp hạch ngoại biên to cần phải chọc hút hạch để làm xét nghiệm. Chẩn đoán lao hạch ngoại biên qua chọc hút kim nhỏ cho kết quả chính xác từ 70 – 90%. Ngoài ra, còn có thể tìm vi khuẩn lao trong bệnh phẩm chọc hút hạch bằng phương pháp nuôi cấy hoặc soi trực tiếp.
  • Sinh thiết hạch: Đây là xét nghiệm có giá trị quan trọng trong chẩn đoán lao hạch. Sinh thiết hạch có hình ảnh nang lao điển hình. Tuy nhiên sinh thiết hạch là một kỹ thuật phức tạp, vì vậy, sử dụng phương pháp này khi chọc hút hạch không cho kết quả chẩn đoán.
  • Phản ứng Mantoux: Trong lao hạch, phản ứng Mantoux thường dương tính mạnh nên đây là một dấu hiệu quan trọng trong chẩn đoán lao hạch và chẩn đoán phân biệt với các bệnh Hodgkin, ung thư hạch...
  • Chụp X quang phổi: Do lao hạch là lao thứ phát nên cần chụp X quang phổi để phát hiện các tổn thương.
  • Siêu âm hạch: Phương pháp này nhằm đánh giá tính chất hạch, kích thước to nhỏ của hạch....
  • Xét nghiệm miễn dịch: Các xét nghiệm thường sử dụng chẩn đoán lao hạch là phản ứng chuyển dạng lympho bào và phản ứng ức chế di tản đại thực bào.
  • Soi hoặc nuôi cấy: Tìm vi khuẩn lao bằng phương pháp soi trực tiếp hoặc nuôi cấy qua bệnh phẩm chọc hút hạch hoặc sinh thiết hạch.

3. Điều trị lao hạch

thuốc
Khi điều trị nội khoa bác sĩ sẽ phối hợp các thuốc chống lao, ít nhất từ 3 thuốc trở lên

Lao hạch nếu được chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời, đúng nguyên tắc sẽ khỏi hoàn toàn và không để lại di chứng. Tuy nhiên, việc điều trị lao hạch sẽ gặp nhiều khó khăn và có nhiều biến chứng. Các phương pháp điều trị bao gồm:

Điều trị nội khoa:

  • Phối hợp các thuốc chống lao, ít nhất từ 3 thuốc trở lên. Giai đoạn tấn công nên dùng phối hợp 3 đến 4 loại thuốc chống lao, giai đoạn duy trì nên dùng 2 loại thuốc chống lao.
  • Thời gian điều trị lao hạch phải kéo dài 9 – 12 tháng vì lao hạch hay tái phát.
  • Trường hợp lao hạch ở bệnh nhân HIV/AIDS nên dùng phối hợp 4 thuốc chống lao RHZE ở giai đoạn tấn công, sau đó nên dùng 2 thuốc chống lao ở giai đoạn củng cố. Tổng thời gian điều trị kéo dài từ 9 – 12 tháng nhằm phòng ngừa lao hạch tái phát.

Điều trị ngoại khoa:

  • Nếu hạch sưng tấy, hoá mủ và khả năng vỡ mủ thì cần trích dẫn lưu mủ để tránh vết sẹo xấu.
  • Sau khi trích rạch, nạo bã đậu thì kết hợp điều trị tại chỗ bằng cách rắc bột isoniazid hoặc dung dịch rifampicin 1% hàng ngày cho đến khi vết thương khô
  • Trường hợp hạch đã rò nhưng mủ chưa ra hết thì nên trích rạch để mở rộng lỗ rò, nạo vét hết mủ và điều trị tại chỗ và kết hợp các thuốc chống lao như trên.
  • Trường hợp hạch quá to, chèn ép vào tổ chức xung quanh (mạch máu, thần kinh...) thì cần mổ bóc hạch nhưng không được làm tổn thương đến mạch máu và thần kinh.
  • Không chọc hút hạch vì dễ tạo nên đường rò theo đường kim chọc. Với những trường hợp hạch to, nhuyễn hoá và rò mủ thì nên điều trị phối hợp các thuốc chống lao với corticoid, kết hợp dẫn lưu mủ.

Lao hạch là một thể lao nhẹ, ít nguy hiểm đến tính mạng của người bệnh và điều trị có kết quả khỏi cao trên 90%. Tuy nhiên rất khó tiên lượng diễn biến của lao hạch vì hạch tiếp tục to lên hoặc xuất hiện thêm hạch mới mặc dù đang điều trị.

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec với hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế hiện đại cùng đội ngũ chuyên gia, bác sĩ nhiều năm kinh nghiệm trong khám điều trị bệnh, người bệnh hoàn toàn có thể yên tâm thăm khám và điều trị lao hạch tại Bệnh viện.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

957 lượt đọc

Bài viết liên quan