......

Giảm nguy cơ mắc chứng sa sút trí tuệ liên quan đến hành vi loạn thần

Sa sút trí tuệ hay suy giảm trí nhớ là sự suy giảm nhận thức mãn tính, toàn bộ và thường không thể hồi phục được. Các chẩn đoán lâm sàng, xét nghiệm thường được sử dụng để xác định nguyên nhân. Tuy nhiên, việc điều trị chỉ mang tính chất hỗ trợ, trong đó quan trọng là giảm nguy cơ mắc chứng sa sút trí tuệ liên quan đến hành vi loạn thần.

1. Sa sút trí tuệ là gì?

Sa sút trí tuệ không phải là căn bệnh cụ thể, nó là tổng hợp nhiều triệu chứng và trong đó mất trí nhớ là biểu hiện thường gặp nhất. Người bị sa sút trí tuệ thường gặp khó khăn trong ghi nhớ, học tập và giao tiếp.

Quá trình rối loạn nhận thức đã bắt đầu rất lâu trước khi biểu hiện lâm sàng, cho nên ra đời thuật ngữ rối loạn thần kinh nhận thức để chỉ quá trình bệnh với mức độ nhẹ và là giai đoạn sớm hơn để phát hiện phòng ngừa và điều trị trước khi tiến triển đến sa sút trí tuệ.

Cùng với tỉ lệ người cao tuổi ở giai đoạn già hóa ngày càng tăng, chiếm khoảng 10% của dân số Việt Nam năm 2017 là 95 triệu, thì có đến 9,5 triệu người cao tuổi và tỉ lệ cộng đồng của người sa sút trí tuệ sẽ bằng 5% của người từ 60 tuổi trở lên sẽ là 475.000. Cho nên chiến lược quản lý sa sút trí tuệ hiện nay hướng đến điều trị giảm nguy cơ, chẩn đoán sớm và can thiệp sớm.

Bệnh sa sút trí tuệ khởi phát âm thầm đối với các biểu hiện giảm trí nhớ và các chức năng nhận thức khác nhưng bệnh nhân thường có biện pháp thích nghi, bù trừ, chối bỏ bệnh. Bệnh có thể được nhận diện bởi người thân khi nhận thấy họ giao tiếp khó khăn, thay đổi tính cáchloạn thần.

Sa sút trí tuệ ở người cao tuổi: Những điều cần biết
Bệnh sa sút trí tuệ ở người cao tuổi

2. Sa sút trí tuệ liên quan đến hành vi loạn thần thế nào?

Để hiểu loạn thần hay rối loạn tâm thần liên quan đến sa sút trí tuệ. Một số chuyên gia hiện nay gọi chứng sa sút trí tuệ là "rối loạn nhận thức thần kinh". Nhưng các bác sĩ vẫn dùng từ sa sút trí tuệ. Đó là một thuật ngữ rộng bao gồm một loạt các tình trạng do những thay đổi trong não gây ra.

Bệnh Alzheimer có lẽ là dạng bệnh mất trí nhớ được biết đến nhiều nhất. Tuy nhiên, đó không phải là tất cả, vẫn còn những dạng khác của sa sút trí tuệ bao gồm:

  • Chứng mất trí nhớ thể Lewy
  • Chứng sa sút trí tuệ vùng trán
  • Sa sút trí tuệ mạch máu

Những tình trạng này khiến bệnh nhân mắc phải suy giảm trong suy nghĩ và khả năng giải quyết vấn đề và thường gây khó khăn cho cuộc sống hàng ngày và cuộc sống độc lập. Các triệu chứng phổ biến của chứng sa sút trí tuệ bao gồm:

  • Mất trí nhớ (chẳng hạn như quên tên người thân, quên những việc mình đã làm hay những người mình đã gặp...)
  • Suy giảm khả năng chú ý, dễ mất tập trung
  • Khó khăn trong giao tiếp (ví dụ sử dụng những từ khác thường để chỉ những đồ vật quen thuộc)
Không giao tiếp, mất tập trung biểu hiện của bệnh gì?
Không giao tiếp, mất tập trung biểu hiện của chứng sa sút trí tuệ

Nói chung, rối loạn tâm thần là khi một người gặp khó khăn trong việc nhận ra đâu là thật và đâu là giả. Những người bị rối loạn tâm thần có thể bị ảo tưởng, giống như một niềm tin sai lầm chắc chắn rằng ai đó đang cố giết họ. Họ cũng có thể bị ảo giác nhìn thấy hoặc nghe thấy điều gì đó hoặc ai đó mà những người khác không hề nhìn thấy và nghe thấy.

Tiến sĩ Gary Small, giám đốc Trung tâm Tuổi thọ của UCLA, cho biết: “Có rất nhiều sự thiếu hiểu biết và kiến ​​thức về những thuật ngữ này. Những thuật ngữ đó thật đáng sợ đối với nhiều người. Chứng mất trí nhớ nghe có vẻ rất nghiêm trọng và thuật ngữ như rối loạn tâm thần cũng đáng sợ. Những gì tôi cố gắng làm là giải thích những điều đó là gì, những hiện tượng đó là gì và cố gắng giúp họ hiểu nó và giải quyết vấn đề."

Những người bị rối loạn tâm thần liên quan đến sa sút trí tuệ có sự suy giảm về kỹ năng suy nghĩ và giải quyết vấn đề của chứng sa sút trí tuệ, cũng như ảo tưởng hoặc ảo giác của chứng loạn thần nhưng ảo tưởng phổ biến hơn. Tất cả những điều đó có thể gây ra các vấn đề khác, như:

  • Thờ ơ với mọi việc
  • Lo lắng quá mức
  • Hiếu chiến
  • Mất ngủ
  • Dễ kích động
  • Thiếu sự kiềm chế

Bước đầu tiên để tìm hiểu xem một người có bị rối loạn tâm thần liên quan đến sa sút trí tuệ hay không là đảm bảo rằng ảo giác hoặc ảo tưởng mà họ gặp phải không phải là kết quả của một bệnh lý khác. Ví dụ, nhiễm trùng đường tử cung có thể dẫn đến ảo giác.

Chẩn đoán rối loạn tâm thần liên quan đến sa sút trí tuệ chủ yếu là thu thập thông tin; loại trừ các nguyên nhân khác; sau đó quan sát, lắng nghe và đặt câu hỏi.

Tiến sĩ George Grossberg, Giám đốc khoa tâm thần lão khoa tại Trường Y Đại học Saint Louis, cho biết: “Tôi không bao giờ gặp riêng cá nhân của người tôi cần chẩn đoán mà sẽ cùng với ít nhất là một người phụ trách việc chăm sóc họ”. Những người bị sa sút trí tuệ có thể che giấu các triệu chứng của họ, vì sợ bị kỳ thị thường đi kèm với các vấn đề sức khỏe tâm thần. Y tá, bác sĩ, người chăm sóc chuyên nghiệp có thể không nhận ra các dấu hiệu vì nhiều lý do. Điều đó làm cho việc quan sát, nói chuyện và đặt câu hỏi phù hợp cho tất cả mọi người liên quan thậm chí còn quan trọng hơn.

3. Điều trị chứng sa sút trí tuệ liên quan đến hành vi loạn thần, rối loạn cảm xúc

3.1. Điều trị không dùng thuốc

Các can thiệp không dùng thuốc là biện pháp bổ trợ quan trọng cho các tác nhân gây bệnh tâm thần và đã được chứng minh là có hiệu quả ở các bệnh nhân bị sa sút trí tuệ. Những can thiệp này có thể được sử dụng cho hầu hết các bệnh nhân bị rối loạn hành vi liên quan đến sa sút trí tuệ.

Trước khi tiến hành can thiệp, vấn đề hoặc triệu chứng hành vi phải được xác định và định lượng về tần suất và mức độ nghiêm trọng. Việc xác định và loại bỏ các nguyên nhân gây kết nhiễu là rất cần thiết. Các mục tiêu chăm sóc nên được thương lượng với những người chăm sóc; hành vi được nhắm mục tiêu thường không thể được loại bỏ hoàn toàn, nhưng nó có thể được giảm xuống mức có thể chấp nhận được hoặc chấp nhận được.

  • Các cách tiếp cận dành cho người chăm sóc

Người chăm sóc bệnh nhân sa sút trí tuệ cần được giáo dục về quá trình bệnh và các biểu hiện bệnh được thể hiện. Trong hầu hết các tình huống, phương pháp đối phó bao gồm giữ bình tĩnh và sử dụng các biện pháp cảm ứng, âm nhạc, đồ chơi và các vật dụng cá nhân quen thuộc. Giúp người chăm sóc hiểu được hành vi thiếu chủ ý của người bệnh cũng là điều cần thiết.

  • Cách tiếp cận hành vi

Ban đầu nên thử các phương pháp đã từng hữu ích trong quá khứ. Tốt hơn là đánh lạc hướng những bệnh nhân đang tức giận hoặc hung hăng hơn là cố gắng lý luận với họ. Đặt câu hỏi kết thúc (ví dụ: “Bạn có muốn ăn ngũ cốc cho bữa sáng không?”) Thay vì câu hỏi mở (ví dụ: “Bạn muốn ăn gì cho bữa sáng?”). Có thể ít gây khó hiểu và căng thẳng cho bệnh nhân. Liệu pháp xác nhận tập trung vào việc phản hồi lại cảm xúc hơn là nội dung của những gì bệnh nhân nói.

Ngoài ra, sử dụng liệu pháp hồi tưởng để kể lại những trải nghiệm thú vị và sử dụng các hoạt động trị liệu như khiêu vũ, nghệ thuật, âm nhạc và tập thể dục đã được chứng minh là hữu ích. Định hướng thực tế không được khuyến khích ngoại trừ trong giai đoạn đầu của bệnh. Khi các ảo giác hoặc ảo tưởng không đe dọa được báo cáo, sự trấn an của người chăm sóc có thể là biện pháp điều trị duy nhất cần thiết.

  • Thay đổi môi trường

Những bệnh nhân có hành vi không hoạt động thể chất, chẳng hạn như đi nhanh và đi lang thang, có thể phản ứng với việc tạo ra một môi trường an toàn để họ có thể đi bộ mà không gặp rủi ro. Nên loại bỏ các vật dụng như súng và dao. Làm cho môi trường an toàn là một công việc luôn luôn cần chú ý và thay đổi khi bệnh tiến triển. Đối với những bệnh nhân ở giai đoạn sau của bệnh, chỉ có thể đạt được một môi trường an toàn trong những cơ sở chuyên biệt như đơn vị chữa bệnh Alzheimer hoặc các cơ sở chăm sóc dài hạn.

  • Can thiệp cảm biến

Can thiệp cảm biến vào có thể có lợi ở nhiều người lớn tuổi bị ảo tưởng. Liệu pháp âm nhạc và trị liệu cũng có thể hữu ích trong trường hợp này bằng cách tạo ra một môi trường như ở nhà trong các viện dưỡng lão, dường như làm giảm bớt các hành vi liên quan đến chứng rối loạn tâm thần và nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

đi bộ nhanh ở người lớn tuổi
Điều trị chứng sa sút trí tuệ với bệnh nhân có hành vi không hoạt động thể chất như đi bộ nhanh mà không gặp rủi ro.

3.2. Điều trị dùng thuốc

  • Kháng sinh atypical antipsychotics

Thuốc chống loạn thần không điển hình là nhóm thuốc được nghiên cứu kỹ lưỡng nhất dành cho bệnh nhân sa sút trí tuệ và là loại thuốc phổ biến nhất được dùng trong thực hành lâm sàng. Chúng được dung nạp tốt hơn các thuốc an thần kinh điển hình, ít nguy cơ gây ra hội chứng ngoại tháp (EPS). Trong trường hợp không có chống chỉ định, chẳng hạn như rối loạn chức năng ngoại tháp nghiêm trọng (ví dụ, EPS, parkinson), thuốc an thần kinh không điển hình nên được bắt đầu với liều lượng hiệu quả thấp nhất và được chuẩn độ hàng tuần.

Run, cứng, loạn trương lực cơ và rối loạn vận động được xác định ở một số lượng đáng kể bệnh nhân lúc ban đầu và có thể trầm trọng hơn khi sử dụng thuốc chống loạn thần không điển hình, đặc biệt khi những thuốc này được dùng ở liều lượng cao hơn. Các bác sĩ phải thận trọng khi tăng liều lượng và quan sát bệnh nhân chặt chẽ để biết sự xuất hiện của EPS. Dựa trên kết quả của các thử nghiệm lâm sàng, dường như có một khoảng thời gian ngắn để xác định chính xác liều lượng dung nạp hiệu quả.

Tất cả các thuốc này có thể được dùng một lần mỗi ngày, thường là vào ban đêm để tận dụng tác dụng an thần của chúng. Hai thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng phát hiện ra rằng risperidone (Risperdal) có hiệu quả trong việc kiểm soát các rối loạn tâm thần của chứng sa sút trí tuệ. Tuy nhiên, một phân tích hồi cứu dựa trên kết quả của 17 nghiên cứu đối chứng với giả dược về việc sử dụng thuốc chống loạn thần không điển hình để điều trị rối loạn hành vi ở bệnh nhân sa sút trí tuệ cho thấy tỷ lệ tử vong tăng lên. Hầu hết các trường hợp tử vong là do tai biến mạch máu não hoặc nhiễm trùng. Điều này đã khiến Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ đưa ra cảnh báo an toàn cho tất cả các tác nhân thuộc nhóm này.

Quetiapine (Seroquel) là loại thuốc ít có khả năng làm tăng các triệu chứng ở bệnh nhân Parkinson hoặc EPS. Việc tiêm bắp olanzapine (Zyprexa) đã được thử nghiệm ở những bệnh nhân bị kích động nặng, phản ứng thuận lợi so với những bệnh nhân dùng giả dược và lorazepam (Ativan). Khi các triệu chứng được kiểm soát ở mức chấp nhận được, chỉ nên sử dụng thuốc khi cần thiết.

  • Thuốc chống co giật

Thuốc chống co giật thường được sử dụng khi các hành vi loạn thần dẫn đến hành vi hung hăng. Ngày càng có nhiều bằng chứng ủng hộ việc sử dụng divalproex (Depakote) hoặc carbamazepine (Tegretol). Những loại thuốc này được khuyến cáo là thuốc phổ biến thứ hai ở những bệnh nhân không đáp ứng đủ với thuốc chống loạn thần. Nhiều thử nghiệm nhỏ, tương đối ngắn hạn đã chứng minh thuốc chống co giật có hiệu quả và được dung nạp tốt.

Tuy nhiên, trên thực tế, các tác dụng phụ, tương tác thuốc và cửa sổ điều trị hẹp có thể hạn chế việc sử dụng carbamazepine. Dữ liệu cho thấy rằng bệnh nhân dùng divalproex đã tiếp tục cải thiện triệu chứng với liều lượng ổn định theo thời gian, mặc dù tác dụng này có thể phản ánh tiền sử tự nhiên của rối loạn hành vi. An thần là một tác dụng phụ phổ biến của các thuốc này và có thể hạn chế việc sử dụng chúng. Hầu hết các dữ liệu về gabapentin (Neurontin) đểu chưa quá rõ ràng.

Thuốc kháng sinh
Điều trị chứng sa sút trí tuệ bằng thuốc chống loạn thần không điển hình - atypical antipsychotics

  • Acetylcholinesterase inhibitors

Các chất ức chế acetylcholinesterase như donepezil (Aricept), galantamine (Razadyne: trước đây là Reminyl), và rivastigmine (Exelon) có liên quan đến việc giảm các hành vi có vấn đề ở bệnh nhân sa sút trí tuệ. Tuy nhiên, những loại thuốc này không nên được coi là thuốc đầu tay trong điều trị rối loạn tâm thần mà chỉ là điều trị bổ trợ. Dữ liệu về chức năng nhận thức ở những bệnh nhân dùng chất ức chế acetylcholinesterase luôn cho thấy sự chậm trễ về thời gian thể chế, có thể phản ánh hành vi được cải thiện, sự chậm trễ trong việc khởi phát các triệu chứng hành vi hoặc duy trì chức năng.

  • Thuốc chống lão hóa

Sự phân biệt giữa trầm cảm với các biểu hiện loạn thần và triệu chứng loạn thần sa sút trí tuệ có thể có vấn đề, đặc biệt là ở những bệnh nhân có tiền sử trầm cảm hoặc các triệu chứng tiêu cực nổi bật khác. Các nhà nghiên cứu gợi ý rằng việc sử dụng các chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc và trazodone (Desyrel) có thể có hiệu quả và có thể được xem xét ở những bệnh nhân được chọn.

  • Anxiolytics

Benzodiazepine không nên được coi là liệu pháp đầu tay để quản lý các rối loạn hành vi mạn tính của bệnh sa sút trí tuệ, ngay cả ở những bệnh nhân có biểu hiện lo âu khá nghiêm trọng. Tuy nhiên, các cuộc điều tra cộng đồng cho thấy rằng những loại thuốc này thường được sử dụng ở những bệnh nhân sa sút trí tuệ.

Sử dụng benzodiazepine mạn tính có thể làm trầm trọng thêm hành vi bất thường vì tác dụng gây quên và ức chế của những loại thuốc này. Trong thực hành lâm sàng, việc sử dụng benzodiazepine nên được giới hạn trong việc kiểm soát các triệu chứng cấp tính không phản ứng với chuyển hướng hoặc các tác nhân khác. Nên ngừng dùng các thuốc benzodiazepin tác dụng ngắn sau khi các triệu chứng được kiểm soát bằng các thuốc khác. Khuyến cáo sử dụng các thuốc benzodiazepin có thời gian bán hủy ngắn, không có chất chuyển hóa có hoạt tính và ít tiềm năng tương tác thuốc.

Tóm lại, rối loạn tâm thần có thể gây ra một thách thức lớn hơn là suy giảm nhận thức đối với bệnh nhân sa sút trí tuệ và những người chăm sóc họ. Tính chất và tần suất của các triệu chứng loạn thần thay đổi trong quá trình bệnh, nhưng ở hầu hết các bệnh nhân, các triệu chứng này xảy ra thường xuyên hơn ở giai đoạn sau của bệnh.

Chính vì vậy, quản lý rối loạn tâm thần đòi hỏi một cách tiếp cận toàn diện không dùng thuốc và dược lý, bao gồm đánh giá chính xác các triệu chứng, nhận thức về môi trường mà chúng xảy ra, xác định các chất kết tủa và cách chúng ảnh hưởng đến bệnh nhân và người chăm sóc của họ. Các can thiệp không dùng thuốc bao gồm:

  • Tư vấn cho người chăm sóc về bản chất không cố ý của các biểu hiện rối loạn tâm thần và đưa ra các chiến lược đối phó;
  • Các phương pháp tiếp cận bệnh nhân liên quan đến việc thay đổi hành vi;
  • Sử dụng thích hợp sự can thiệp của giác quan; an toàn môi trường;
  • Duy trì các thói quen như cung cấp bữa ăn, tập thể dục và ngủ một cách nhất quán;
  • Các phương pháp điều trị bằng dược lý nên được điều chỉnh theo triết lý từ thấp đến cao nghĩa là chỉ tăng dần liều khi thực sự cần thiết;

Nguồn tham khảo: www.webmd.com, www.aafp.org

262 lượt đọc

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan