......

Các dấu ấn tim (Cadiac Markers) trong cấp cứu

Các dấu ấn tim rất có giá trị đối với chẩn đoán nhồi máu cơ tim. Dấu ấn tim trong cấp cứu cũng giúp phân biệt với các tình trạng tổn thương cơ tim khác. Bài viết sau đây sẽ đề cập đến các dấu ấn tim được sử dụng trong cấp cứu để chẩn đoán và tiên lượng.

1. Các dấu ấn tim là gì?

Các dấu ấn tim là những sản phẩm sinh học được giải phóng từ cơ tim bị tổn thương. Tuỳ thuộc vào đặc điểm tổn thương cơ tim, thời gian bán huỷ mà mỗi dấu ấn tim lại có những ứng dụng riêng trong sàng lọc, chẩn đoán hoặc tiên lượng bệnh.

Một dấu ấn tim lý tưởng phải đặc hiệu cho bệnh tim, có độ nhạy cao, có thể phân biệt tổn thương không hồi phục hoặc có thể hồi phục và phát hiện tái nhồi máu, nhồi máu tái phát, đồng thời có tính chất ổn định, thực hiện phép đo nhanh với chi phí thấp. Ngoài ra những dấu ấn tim trong cấp cứu này còn có khả năng ước lượng kích thước của vùng nhồi máu cơ tim, tiên lượng bệnh và theo dõi hiệu quả điều trị

Trên lâm sàng, các dấu ấn tim là chỉ điểm quan trọng trong chẩn đoán và tiên lượng hội chứng mạch vành cấp. Bởi vì không phải trường hợp nào cũng có thể dễ dàng chẩn đoán bằng triệu chứng và điện tâm đồ. Nhất là ở những bệnh nhân đôi khi không có triệu chứng như người cao tuổi hoặc đái tháo đường. Dấu ấn tim trong cấp cứu để chẩn đoán hội chứng vành cấp được chia làm hai loại: Loại enzym và loại không phải enzym. Các dấu ấn tim loại enzymes gồm có Creatine kinase (CK), Lactate dehydrogenase (LDH), Aspartate aminotransferase (AST). Các dấu ấn tim loại không phải enzym gồm có Myoglobin, Troponin T, Troponin I. Trong thực tế thì các dấu ấn tim đều có giá trị và ứng dụng riêng trong cấp cứu, không có dấu ấn tim nào là lý tưởng tuyệt đối. Nhưng troponin tim là dấu ấn quan trọng nhất để chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp vì có độ nhạy và độ đặc hiệu cao nhất.

dấu ấn tim là gì
Các dấu ấn tim rất có giá trị đối với chẩn đoán nhồi máu cơ tim

2. Các dấu ấn tim trong cấp cứu

Các dấu ấn tim được sử dụng trên lâm sàng trong chẩn đoán và tiên lượng hội chứng mạch vành cấp bao gồm: Myoglobin, CK-MB, Troponin (hsTnT và hsTnI) và H-FABP, BNP.

  • Troponin

Các Troponin bao gồm Troponin T, Troponin I và Troponin C. Đây là những protein điều hoà có cả ở cơ tim và cơ vân, kiểm soát sự tương tác giữa sợi actin và myosin qua trung gian canxi. Troponin I (TnI) và Troponin T (TnT) có nhiều ở cơ tim. TnT và TnI được giải phóng vào máu khi tế bào tim tổn thương nên trở thành các dấu ấn tim để phát hiện tình trạng tổn thương cơ tim trong cấp cứu. Trong hội chứng vành cấp, troponin tăng trong vòng 4 giờ sau khi khởi phát triệu chứng và kéo dài 7-10 ngày sau đó. Sự thay đổi nồng độ troponin tim giữa các lần đo có ý nghĩa quan trọng hơn giá trị một lần đo, giúp chẩn đoán phân biệt nhồi máu cơ tim với những nguyên nhân khác làm tăng troponin. Các nguyên nhân tăng troponin không do nhồi máu cơ tim cấp như: Suy thận, viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim, thuyên tắc phổi, suy tim, sốc nhiễm trùng.

  • Myoglobin

Myoglobin là một protein liên kết sắt với oxy có ở mô cơ, chủ yếu là ở tim và cơ xương. Myoglobin được giải phóng nhanh khi tổn thương cơ tim nên trở thành một dấu ấn tim trong cấp cứu để chẩn đoán sớm nhồi máu cơ tim cấp. Vì cơ vân cũng có myoglobin nên không đặc hiệu cho tim. Do đó, để chẩn đoán sớm nhồi máu cơ tim, myoglobin thường được kết hợp với hoặc thay thế bởi troponin T hay troponin I. Myoglobin tăng trong vòng 2-4 giờ sau khởi phát nhồi máu cơ tim, đạt đỉnh sau 6-12 giờ và trở về bình thường sau 24-36 giờ.

  • CK hoặc CK-MB

Creatine kinase (CK) là một enzym có vai trò trong co cơ, gồm 2 tiểu đơn vị là M và B, kết hợp với nhau tạo nên 3 isoenzyme là CK-BB (có chủ yếu ở não), CK-MB (có nhiều ở tim) và CK-MM (có ở cơ và tim). Khi cơ tim hoại tử sẽ giải phóng CK-MB vào máu nên được xem như một dấu ấn cho tổn thương cơ tim. CK-MB tăng trong vòng 4 - 6 giờ sau khởi phát triệu chứng, đạt đỉnh sau 24 giờ và trở về bình thường trong vòng 48 - 72 giờ. Giá trị của CK-MB trong chẩn đoán nhồi máu cơ tim muộn sau 72 giờ bị hạn chế nhưng giúp chẩn đoán tái nhồi máu nếu nồng độ tăng lên trở lại sau khi trở về giá trị bình thường. Tuy nhiên, CK – MB không đặc hiệu 100% cho tim mà có thể tăng trong chấn thương cơ cấp tính, viêm cơ, viêm đa cơ, viêm mãn tính.

  • H-FABP (heart-type fatty acid-binding protein)

H-FABP là protein trọng lượng phân tử thấp gắn acid béo type tim. Hiện diện chủ yếu ở cơ tim và một lượng nhỏ hơn ở cơ vân. H-FABP được giải phóng khi có tình trạng tổn thương cơ tim nên trở thành dấu ấn tim trong cấp cứu của nhồi máu cơ tim, đặc biệt là ở bệnh nhân không tăng troponin hoặc NT- Pro BNP.

  • BNP và NT – Pro BNP

Peptide lợi niệu type B (BNP) là một hormone được tiết ra bởi các tế bào cơ tim trong tâm thất để đáp ứng với tình trạng căng thẳng của tim và rối loạn chức năng tâm thất. BNP giúp phân biệt nguyên nhân khó thở cấp tính tại tim hay ngoài tim. Một số nghiên cứu đã chứng minh giá trị tiên lượng của BNP và NT-proBNP ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim. NT-proBNP huyết tương, được đo từ 2 đến 4 ngày sau nhồi máu cơ tim cấp, dự đoán độc lập chức năng thất trái và thời gian sống thêm 1 năm.

vai trò các dấu ấn tim trong cấp cứu
BNP và NT – Pro BNP trong cấp cứu giúp chẩn đoán và tiên lượng hội chứng mạch vành cấp

  • CRP

CRP là một protein tạo lập bởi gan khi có tổn thương mô, nhiễm trùng hoặc viêm. CRP là một chỉ số tiên lượng hữu ích ở bệnh nhân hội chứng vành cấp, vì nồng độ CRP tăng cao là những yếu tố dự báo độc lập về tử vong do tim, nhồi máu cơ tim cấp và suy tim sung huyết. Bệnh nhân có CRP cao lúc nhập có tiên lượng năm đầu xấu; khả năng tái phát bệnh cao. Tuy nhiên, CRP là một dấu ấn sinh học ít đặc hiệu và nhạy cảm về tổn thương tim so với hs-cTn.

  • Myeloperoxidase (MPO)

MPO là men có trong bạch cầu làm cho mảng xơ vữa không ổn định và gây co thắt mạch máu. MPO có thể là một dấu ấn tim sớm và có ích trong cấp cứu tuy nhiên cần nhiều nghiên cứu hơn nữa để xác định độ nhạy, độ đặc hiệu và giá trị tiên đoán.

  • Albumin biến đổi do thiếu máu cục bộ (IMA)

IMA là albumin huyết thanh được tạo ra khi tiếp xúc với mô cơ tim bị thiếu máu cục bộ. IMA tăng vài phút ngay sau khi khởi phát thiếu máu cục bộ, đạt đỉnh trong vòng sau 6 giờ và tăng kéo dài đến 12 giờ sau đó. Tuy nhiên, IMA cũng tăng ở bệnh nhân xơ gan, nhiễm trùng và ung thư tiến triển. Do đó, cần nhiều nghiên cứu hơn nữa về vai trò của IMA trong nhồi máu cơ tim.

Tóm lại, các dấu ấn tim được xem là nền tảng trong chẩn đoán hội chứng mạch vành cấp. Các dấu ấn tim khác nhau được dùng trong cấp cứu như AST, myoglobin, CRP, CK -MB, troponin...nhưng sử dụng rộng rãi nhất vẫn là troponin và CK – MB. Sự tăng nồng độ các dấu ấn tim trong cấp cứu có thể là biểu hiện của hoại tử cơ tim do thiếu máu cục bộ hoặc các tình trạng khác gây tổn thương cơ tim. Biết được động học của các dấu ấn tim cũng như kết hợp với bệnh cảnh lâm sàng là điều cần thiết để chẩn đoán chính xác nguyên nhân tăng các chỉ dấu này.

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là một trong những bệnh viện không những đảm bảo chất lượng chuyên môn với đội ngũ y bác sĩ đầu ngành, hệ thống trang thiết bị công nghệ hiện đại mà còn nổi bật với dịch vụ khám, tư vấn và chữa bệnh toàn diện, chuyên nghiệp; không gian khám chữa bệnh văn minh, lịch sự, an toàn và tiệt trùng tối đa.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

Nguồn tham khảo: medlatec.vn

437 lượt đọc

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan