......

Bệnh chốc: Những điều cần biết

Bài viết được viết bởi Bác sĩ chuyên khoa I Trần Văn Sáng - Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng

Bệnh chốc (impetigo) là một nhiễm khuẩn nông thường gặp ở da, đặc trưng bởi mụn nước, bọng nước hóa mủ nhanh, sau đó dập vỡ để lại các vết trợt nông và đóng vảy tiết màu mật ong. Thuật ngữ chốc hóa (impetiginisation) được dùng để chỉ các nhiễm trùng nông thứ phát của một vết thương hoặc một tình trạng da nhất định. Khi thương tổn loét sâu được gọi là chốc loét.

1. Phân loại bệnh chốc

Chốc thường gặp ở trẻ em, bé trai nhiều hơn bé gái. Ở người lớn, thường hiếm gặp, bệnh gặp ở những người khi miễn dịch kém. Bệnh hay gặp vào mùa hè, phổ biến ở các nước đang phát triển, điều kiện sống thiếu vệ sinh, dân cư đông. Chốc hay gặp sau một số bệnh da như viêm da cơ địa, ghẻ, thủy đậu, vết đốt do côn trùng, bỏng nhiệt, viêm da.

Phân loại bệnh chốc, gồm 3 thể:

  • Chốc bọng nước
  • Chốc không có bọng nước
  • Chốc loét
Chốc lở
Chốc thường xuất hiện ở các bé nam

2. Nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân gây chốc là vi khuẩn tụ cầu vàng hoặc vi khuẩn liên cầu. Và có lúc phối hợp của 2 loại cả 2 loại vi khuẩn này.
Chốc không có bọng nước (nonbullous impetigo) có thể gây ra bởi liên cầu tan huyết beta nhóm A, tụ cầu và/hoặc liên cầu xâm nhập vào các vết thương nhỏ trên da, ở đó có các protein giúp vi khuẩn gắn chặt vào tổ chức.
Chốc bọng nước (bullous impetigo) thường do độc tố bong da của tụ cầu (exfoliatin A-D) tác động vào cầu nối desmoglein 1 của các tế bào gai ở thượng bì, làm bóc tách lớp nông của thượng bì, tạo hình ảnh giống pemphigus vảy lá.
Chốc loét thường do liên cầu nhưng có thể phối hợp với tụ cầu vàng, xảy ra trên cơ địa suy giảm miễn dịch, người già, người mắc bệnh mạn tính.

3. Triệu chứng lâm sàng

Chốc hay gặp ở vùng da hở như ở mặt, quanh các hốc tự nhiên miệng, mũi, ở da đầu, tay, chân, nhưng cũng gặp ở thân mình và các phần khác của cơ thể. Bệnh xuất hiện với một thương tổn đơn độc hoặc nhiều thương tổn. Người bệnh có thể sốt, mệt mỏi, nổi hạch.
Chốc không có bọng nước thường bắt đầu là một dát hồng, tiến triển thành mụn nước, bọng nước hóa mủ nhanh, mau chóng dập vỡ để lại các vết xước đóng vảy tiết màu vàng mật ong. Khi vảy tiết bong ra để lại nền da đỏ ẩm, khi lành để lại dát thâm. Nếu không được điều trị, bệnh có thể tự lành sau 2-4 tuần mà không có sẹo. Thương tổn có thể lan rộng ra các vùng khác do tự lây nhiễm, do cào gãi.

Bất kỳ vùng da nào trên cơ thể đều có thể bị nhưng mặt và các chi hay bị nhất. Thương tổn có thể ngứa nhẹ hoặc không có triệu chứng, có hoặc không có quầng đỏ bao quanh. Hạch ngoại vi thường to. Bệnh nhân có thể có chấn thương nhẹ, côn trùng đốt, ghẻ, thủy đậu, viêm da cơ địa tại vị trí bị chốc.

Chốc loét bắt đầu giống như chốc không bọng nước nhưng tiến triển thành những vết loét hoại tử lõm giữa, chậm lành, để lại sẹo. Chốc bọng nước khởi phát với mụn nước nhỏ, lớn dần thành bọng nước. Bọng nước nông, dễ vỡ, kích thước nhỏ hoặc lớn, chứa dịch vàng, trong, sau chuyển sang vàng đậm, vỡ trong 1 đến 3 ngày, để lại viền da mỏng xung quanh dát đỏ ẩm ướt, khi lành không có sẹo. Xung quanh bọng nước có thể có quầng đỏ hoặc không. Thương tổn hay gặp ở mặt, thân mình, các chi, mông, sau đó lan ra các đầu xa do tự lây nhiễm. Khác với chốc không bọng nước, chốc bọng nước có thể có thương tổn ở niêm mạc má, ít lây hơn, hạch vùng không to.

Chốc mép
Chốc bọng nước khởi phát với những mụn nước nhỏ

4. Các biến chứng của chốc

5. Chẩn đoán bệnh chốc

Chẩn đoán chốc chủ yếu dựa vào các đặc điểm triệu chứng lâm sàng như nổi mụn nước, bọng nước hóa mủ nhanh, đập vỡ tạo thành vết trợt nông trên da, đóng vảy tiết, màu vàng mật ong, vị trí hay gặp là quanh mũi, miệng, da đầu, tay chân..

Ngoài ra, có thể làm một số xét nghiệm như nhuộm soi tìm vi khuẩn, nuôi cấy vi khuẩn, công thức bạch cầu (có tăng bạch cầu trung tính), mô bệnh học.

Đặc điểm mô bệnh học bệnh chốc:

  • Chốc không bọng nước: có tụ cầu gram dương, mụn mủ chứa bạch cầu trung tính trong thượng bì, xâm nhập viêm dày đặc ở trung bì nông.
  • Chốc bọng nước: thượng bì bị tách ở lớp hạt mà không có hiện tượng viêm, không có vi khuẩn, có hiện tượng ly gai, xâm nhập viêm nhẹ ở trung bì nông.– Chốc loét: vết loét sâu, có cầu khuẩn bắt màu gram trong trung bì.

Quy trình đảm bảo chất lượng xét nghiệm theo tiêu chuẩn quốc tế tại trung tâm công nghệ cao Vinmec
Chẩn đoán bệnh chốc dựa vào biểu hiện lâm sàng hoặc thông qua các xét nghiệm

6. Điều trị bệnh chốc

Theo các bước như sau:

  • Rửa thương tổn, nhẹ nhàng loại bỏ vảy tiết
  • Dùng các thuốc sát trùng: Bôi các thuốc Milian, Xanh mehtylen..

Hoặc mỡ kháng sinh bôi tại chỗ (acid fusidic 2%, mupirocin 2%)...
Nếu chốc lan rộng có thể sử dụng kháng sinh toàn thân như: Augmentin, Cefaclor, Azithromycin...

Khi có các biểu hiện nặng như sốt cao và có biến chứng nên nhập viện điều trị.

=>> XEM THÊM: Bệnh chốc lở dùng thuốc gì?

7. Phòng bệnh chốc

  • Vệ sinh cơ thể sạch sẽ
  • Dùng sữa tắm diệt khuẩn hàng ngày như Cetaphil, Lactacyd
  • Dùng khăn mặt riêng
  • Thay quần áo và giặt hàng ngày
  • Điều trị các nguồn nhiễm khuẩn

Đề phòng lây bệnh cho người khác:

  • Tránh tiếp xúc gần gũi với người khác
  • Cho trẻ nghỉ học cho tới khi vảy tiết đã khô

Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để được giảm ngay 15% phí khám khi đặt hẹn khám lần đầu trên toàn hệ thống Vinmec (áp dụng từ 17/10 - 31/12/2022). Quý khách cũng có thể quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn tư vấn từ xa qua video với các bác sĩ Vinmec mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng.

7.8K

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan