......

Các loại bệnh nấm sâu thường gặp

Bệnh nấm sâu là bệnh mãn tính và nguồn bệnh thường ở môi trường bên ngoài như: Lá cây, đất,... Chúng xâm nhập qua da và đường hô hấp, bệnh nhân thường có biểu hiện tổn thương ở da, niêm mạc, tổ chức dưới da, xương khớp, thần kinh và các cơ quan khác.

1. Bệnh nấm sâu là gì?

Bệnh nấm sâu là một bệnh mãn tính, nguồn bệnh có ở môi trường từ bên ngoài như đất, lá cây,... Bệnh xâm nhập qua da và đường hô hấp. Một số bệnh nấm sâu là nấm cơ hội, gặp ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch như candidiasis, cryptococcosis, histoplasmosis,... Các loại nấm đều ái khí trừ actinomyces israelii. Do đó, có thể dễ dàng phân lập được vi nấm bằng môi trường sabouraud ở nhiệt độ phòng thí nghiệm. Vi nấm mọc rất chậm cần khoảng 1-5 tuần, do vậy chỉ kết luận âm tính sau 1 tháng cấy không mọc.

Bệnh nấm sâu có biểu hiện giống nhiều bệnh mãn tính, do đó cần chẩn đoán bằng nuôi cấy nấm. Không phân biệt được tuyệt đối bệnh nấm nông với nấm sâu vì một loại vi nấm có thể gây bệnh vừa ở da vừa ở nội tạng như nấm candida albicans. Bệnh nhân nhiễm nấm ở mô dưới da thường có các dấu hiệu liên quan đến da. Đối với bệnh nhân nhiễm nấm hệ thống không chỉ có các tổn thương da mà còn biểu hiện ở các cơ quan khác trong cơ thể.

2. Một số bệnh nấm sâu thường gặp

cac-loai-benh-nam-sau-thuong-gap
Bệnh nấm sâu là nấm cơ hội, gặp ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch như candidiasis, cryptococcosis, histoplasmosis

2.1 Bệnh nấm do Candida

Candida là một loại nấm men rất nhỏ phổ biến trong thiên nhiên dưới dạng hoại sinh và nhanh chóng trở thành gây bệnh khi có điều kiện. Nấm có thể gây thương tổn ở da, niêm mạc, móng còn gọi là Candidoses nông, gây tổn thương các giác quan như mắt, tai, mũi họng, có khả năng theo đường máu lan tràn vào các phủ tạng được gọi là Candidoses hay Candidose phủ tạng.

Loại nấm này không có nang, có sợi giả, sinh sản theo lối nảy mầm. Các loài nấm men mọc trên hoa quả, rau cỏ, đặc biệt rất nhiều trên các quả táo, quả lê bắt đầu thối ủng. Trong sản xuất nấm men được tìm thấy trong các hoa quả đưa vào làm kẹo, bánh, mứt, cũng như trong sirô và trong kẹo. Bình thường nấm men còn sống hoại sinh trong ống tiêu hóa, trên da lành cũng như trong niêm mạc của người, động vật.

Các bệnh nấm do Candida được chia làm hai nhóm:

  • Candidoses nông gồm Candidose ở da, niêm mạc, móng và viêm quanh móng
  • Candidoses sâu gồm các bệnh Candidoses ở mắt, tai,mũi, họng, ruột, các phủ tạng và não được gọi là Candidoses hệ thống.

Ngoài ra, có một thể Candidose lan tỏa kinh diễn của trẻ em được coi như thể trung gian ở giữa Candidose nông và Candidose sâu

2.2 Cryptococcosis

Bệnh gây nên do Cryptococcus neoformans, một loại nấm men có ái tính đặc biệt với hệ thống thần kinh trung ương. Nấm Cryptococcus neomans thường gặp trong đất, trong phân chim bồ câu, phân gà, vịt. Trong các chuồng gà, chuồng chim bồ câu, bào tử nấm có thể tồn tại hàng năm. Nấm còn có thể gặp trong các rừng tràm ở Châu Úc. Lây truyền sang người do kết phải bào tử nấm hoặc do săn phải.

Nấm khu trú đầu tiên ở phổi, nhưng ở giai đoạn này triệu chứng rất ít ỏi như sốt nhẹ, chụp X quang phổi thấy có viêm phổi kẽ lan tỏa hoặc thành đám thâm nhiễm, hoặc thành ổ áp-xe chẩn đoán thường phải dựa vào xét nghiệm tìm thấy nấm Cryptococcus trong đờm hoặc trong nước rửa phế quản.

Các triệu chứng ở phổi đôi khi mà không phát hiện được căn nguyên, tuy nhiên nấm đã lan vào hệ thống thần kinh trung ương gây nên viêm màng não - não. Bệnh biểu hiện rất từ từ, bệnh nhân cảm thấy nhức đầu dai dẳng, các thuốc giảm đau không có kết quả kèm theo buồn nôn, nôn mửa. Đôi khi xuất hiện các rối loạn về thần kinh, tâm thần như cứng gáy, rối loạn lúc đi, lẫn lộn, động kinh, rối loạn hô hấp rồi hôn mê.

Tiên lượng xấu, thường tử vong và sau vài tuần hoặc vài tháng. Tỉ lệ tử vong 1/4 số bệnh nhân mặc dầu có điều trị. Các phủ tạng khác như xương, thận, gan, tủy, hạch và cả da cũng bị tổn thương, kết quả của một nhiễm nấm vào máu.

Nấm có thể xâm nhập đầu tiên vào da, niêm mạc bị sang chấn gây một vết loét hơi sần sùi, không có chiều hướng thành sẹo, nhưng cũng có khi tự khỏi. Nấm cũng có thể vào máu, lan tỏa ra toàn thân rồi khu trú ở da dưới nhiều hình thái như những mảng sùi ranh giới rõ, hình nhiều cung, màu đỏ tím, thỉnh thoảng lại có đám dày sừng bao bọc bởi một viên đỏ hồng, tổn thương sờ mềm. Các mảng này hoại tử nhanh chóng để thành một loét nông, tiến triển kinh diễn.

cac-loai-benh-nam-sau-thuong-gap-2
Nấm histoplasmose gây biểu hiện ho

2.3 Histoplasmose

Histoplasmose là bệnh nấm sâu gây nên do các chủng Histoplasma. Hiện nay người ta chia ra làm hai loại: Histoplasmose Châu Mĩ ảnh hưởng chủ yếu đến phổi; Histoplasmose Châu Phi, ảnh hưởng đến da, hạch và xương. Bệnh này trước đây hiếm, nhưng hiện nay ngày một tăng lên cùng bệnh AIDS.Histoplasmose Châu Mỹ, còn gọi là bệnh Darling hay là bệnh Histoplasmosis tế bào nhỏ, gây nên do chủng nấm Histoplasma cupsulatum phát triển bên trong tế bào võng mạc nội mô. Đây là những tế bào nấm men nhỏ kích thước từ 1-3 micron đường kính. Nấm sinh sản theo hai cách khác nhau, tùy theo môi trường. Vì vậy, mới được gọi là nấm nhị độ. Trong cơ chế nấm sinh sản bằng cách nảy mầm. Trong môi trường thiên nhiên và trong môi trường nuôi cấy thì thành sợi và sợi sinh bào tử.Nguồn dự trữ nấm là đất có chứa phân giới, có nhiều trong các hang động có nhiều giới. Người mắc bệnh do hít không khí có chứa nhiều bào tử nấm. Tuổi nào cũng có thể mắc bệnh, nhưng gặp nhiều nhất là trẻ em.

Nấm xâm nhập chủ yếu bằng đường hô hấp chiếm khoảng 70%. Bệnh nhân có biểu hiện bằng một hội chứng như sau: Sốt, mệt, có khi ho ra máu. Chụp x-quang phổi thấy hạch rốn phổi đậm và các vết mờ rất thay đổi. Thông thường điều trị khỏi và có các nốt vôi hóa ở phổi.

Các thương tổn ở da và tiêu hóa rất hiếm gặp. Từ phổi nấm có thể lan theo đường máu và các hệ thống võng mạc nội mô gây bệnh cảnh rất nặng nề, nhưng cũng may là ít gặp. Thể hiện là sốt vừa hoặc sốt cao, hạch to, lách to, đi lỏng (có loét ở mảng Payer), thủng ruột, toàn trạng suy sụp. Có tổn thương ở tất cả các phủ tạng (niêm mạc miệng 30-35 %; tuyến thượng thận 50%), xương thận, thần kinh.histoplasmose có thể chỉ khu trú ở phổi gây nên thể phổi biểu hiện là ho, ho ra máu, sốt chụp X quang phổi thấy có đám thâm nhiễm, hoặc đám mờ đồng đều. Bệnh càng tiến triển càng gây khó thở.

Chẩn đoán xác định khi tìm thấy nấm trong đờm bằng cách soi tươi, nhiễm Giemsa, PAS hay Grocott. Nấm là những tế bào nấm men nhỏ từ 2-4 micron nằm bên trong bạch cầu đơn nhân. Hoặc nuôi cấy trên môi trường Sabourauel.

Đau họng viêm họng khàn giọng thanh quản khó thở hóc
Bệnh nhiễm nấm càng tiến triển càng gây khó thở.

Nuôi cấy cần thận trọng vì dễ lây. Có thể tiêm truyền cho Hamster.

Điều trị chủ yếu là fongizon tiêm truyền vào tĩnh mạch đến khi khỏi nhất là đối với thể lan tỏa, với liều lượng 1mg/kg cơ thể trong 1 ngày. Các thuốc daktarin, nizoral, sporal, diflucan đều có tác dụng, nhưng cũng phải dùng dài ngày.

Tóm lại, bệnh nấm sâu là những bệnh gây thương tổn ở da, niêm mạc, tổ chức dưới da, xương khớp, các phủ tạng và thần kinh. Bệnh tiến triển dai dẳng và rất khó điều trị. Do đó, khi có những biểu hiện bất thường ở da hay niêm mạc nghi ngờ nhiễm nấm cần đến ngay cơ sở y tế để được thăm khám và điều trị.

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec với hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế hiện đại cùng đội ngũ chuyên gia, bác sĩ nhiều năm kinh nghiệm trong khám điều trị bệnh, người bệnh hoàn toàn có thể yên tâm thăm khám và điều trị tại Bệnh viện.

Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để được giảm ngay 15% phí khám khi đặt hẹn khám lần đầu trên toàn hệ thống Vinmec (áp dụng từ 17/10 - 31/12/2022). Quý khách cũng có thể quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn tư vấn từ xa qua video với các bác sĩ Vinmec mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng.

3K

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan
  • Thuốc Undelenic Tincture: Công dụng, chỉ định và lưu ý khi dùng
    Thuốc Undelenic Tincture: Công dụng, chỉ định và lưu ý khi dùng

    Undelenic Tincture hay còn gọi là acid undecylenic. Đây là thuốc dùng để điều trị các bệnh về da do bị nhiễm nấm. Thuốc được sử dụng theo đường ngoài da. Bôi thuốc lên vùng da bị nhiễm nấm để ...

    Đọc thêm
  • Amphot
    Công dụng thuốc Amphot

    Amphot là thuốc được bào chế dưới dạng bột đông khô pha tiêm, với thành phần chính là Amphotericin B, hàm lượng 50mg. Đây là một loại kháng sinh chống nấm, chống nhiễm khuẩn do nhiều nguyên nhân khác nhau. ...

    Đọc thêm
  • Flupaz 200
    Công dụng thuốc Flupaz 200

    Flupaz có hoạt chất chính là Fluconazol, một thuốc kháng nấm nhóm azole. Thuốc được chỉ định trong điều trị nhiễm nấm ở miệng, họng, thực quản, âm hộ - âm đạo và các bệnh nhiễm nấm toàn thân khác.

    Đọc thêm
  • thuốc abelcet
    Công dụng thuốc Abelcet

    Thuốc Abelcet có thành phần là hoạt chất amphotericin B lipid complex. Thuốc thuộc nhóm kháng sinh chống nấm, được sử dụng để điều trị nhiễm dùng xâm lấn do nấm. Để đảm bảo hiệu quả điều trị và tránh ...

    Đọc thêm
  • funcan
    Công dụng thuốc Funcan

    Funcan chứa thành phần chính Fluconazole, là thuốc đầu tiên của nhóm thuốc tổng hợp Triazol chống nấm mới, dùng để điều trị các bệnh nấm Candida ở miệng - hầu, thực quản, đường niệu, màng bụng; bệnh nấm Candida ...

    Đọc thêm