......

Tổng quan bệnh mạch vành mạn

Hội chứng mạch vành

Bài viết được thực hiện bởi Bác sĩ Nội tim mạch - Khoa Khám bệnh & nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Phú Quốc.


Bệnh mạch vành là căn bệnh nguy hiểm có thể dẫn tới tử vong. Việc phát hiện bệnh muộn và không được áp dụng phương pháp điều trị hợp lý thì nó có thể dẫn đến những biến chứng vô cùng nguy hiểm cho tim mạch.

1. Bệnh mạch vành mạn

Bệnh tim thiếu máu cục bộ còn được gọi là bệnh mạch vành, là thuật ngữ liên quan đến việc cung cấp máu không đủ cho cơ tim do động mạch vành bị hẹp hoặc bị tắc nghẽn, thường là do xơ vữa động mạch. Bệnh mạch vành gồm 2 thể là bệnh mạch vành mạn tính (ổn định) và bệnh mạch vành cấp tính (không ổn định).

Hầu hết bệnh nhân bị hội chứng mạch vành mạn tính, còn được gọi là bệnh tim thiếu máu cục bộ ổn định. Chẩn đoán dựa trên tiền sử bị đau thắt ngực điển hình với sự có mặt của các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch: nam giới, phụ nữ mãn kinh, tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, thừa cân.... Đau thắt ngực là sự khó chịu ở ngực xảy ra khi cung cấp máu không đủ cho nhu cầu oxy của cơ tim. Đau thắt ngực ổn định xảy ra khi gắng sức đến mức độ nào đó, mỗi lần gắng sức đến mức đó, đau ngực sẽ xảy ra, bệnh nhân nhân giảm hoặc hết đau khi ngưng gắng sức hoặc dùng thuốc nitroglycerin.

Những bệnh nhân bệnh mạch vành ổn định khác không có triệu chứng đau thắt ngực điển hình. Các triệu chứng liên quan đến giảm lưu lượng máu đến nuôi tim như mệt, khó thở khi gắng sức hoặc thiếu máu cục bộ thầm lặng (đặc biệt ở bệnh nhân đái tháo đường). Ở những bệnh nhân này, chẩn đoán có thể được xác định bằng xét nghiệm gắng sức hoặc, nếu không rõ ràng, bằng cách đánh giá xâm lấn như chụp mạch vành.

Khó thở
Người bệnh mạch vành mạn có thể xuất hiện khó thở khi gắng sức

Nhiều cơ chế sinh lý bệnh có thể gây ra bệnh mạch vành mạn tính. Phổ biến nhất là hẹp động mạch vành do xơ vữa động mạch. Tuy nhiên, có đến một phần ba số bệnh nhân có thể không có bệnh lý xơ vữa đáng kể mà thường do mắc bệnh mạch máu nhỏ.

Mục tiêu chính trong chăm sóc bệnh nhân mắc bệnh mạch vành mạn tính là chẩn đoán chính xác, đánh giá mức độ, điều trị giảm triệu chứng và ngăn ngừa các biến cố tim mạch trong tương lai như hội chứng mạch vành cấp, tử vong.

● Hầu hết bệnh nhân có bệnh mạch vành mạn sẽ được chẩn đoán bởi các nghiệm pháp gắng sức (siêu âm tim, điện tâm đồ) hoặc chẩn đoán hình ảnh (chụp cắt lớp điện toán mạch vành để chẩn đoán hoặc đánh giá mức độ nặng của bệnh).

● Bệnh nhân có các triệu chứng đau thắt ngực nhiều mặc dù điều trị nội khoa tối ưu hoặc những người có khả năng mắc bệnh thiếu máu cơ tim nặng dựa trên nghiệm gắng sức nên tiến hành chụp mạch vành kèm can thiệp mạch vành.

Thuốc chẹn beta được ưu tiên điều trị ban đầu và phòng ngừa các triệu chứng đau thắt ngực. Thuốc chẹn kênh canxi và nitrat tác dụng dài là những lựa chọn thay thế nếu thuốc chẹn beta bị chống chỉ định hoặc gây ra tác dụng phụ; chúng cũng có thể được dùng thêm vào như một liệu pháp kết hợp nếu đơn trị liệu không thành công. Nitrat tác dụng ngắn được sử dụng để giảm đau thắt ngực ngay lập tức.

● Các liệu pháp được biết là làm giảm tỷ lệ mắc các biến cố tim mạch bất lợi như tử vong và nhồi máu cơ tim nên được bắt đầu. Chúng bao gồm chống kết tập tiểu cầu (aspirin), hạ lipid máu, cai thuốc lá, kiểm soát huyết áp và giảm cân phù hợp, và kiểm soát tối ưu bệnh đái tháo đường. Tập thể dục thường xuyên và giảm căng thẳng cũng được khuyến cáo.

● Việc quản lý tối ưu những bệnh nhân này cũng yêu cầu đánh giá định kỳ (mỗi 6 đến 12 tháng) về triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân, tiền căn bệnh lý, khám thực thể và đo điện tâm đồ (ECG).

ECG điện tim điện tâm đồ
Bệnh mạch vành mạn được theo dõi qua kỹ thuật ECG

2. Cơn đau thắt ngực điển hình

  • Vị trí: Thường ở sau xương ức và là một vùng (chứ không phải một điểm), đau có thể lan lên cổ, vai, hàm dưới, thượng vị, sau lưng, tay trái. Hay gặp hơn đó là hướng lan lên vai trái rồi lan xuống mặt trong tay trái, có khi xuống tận các ngón tay út, áp út.
  • Hoàn cảnh xuất hiện: Thường xuất hiện khi gắng sức, xúc cảm mạnh, gặp lạnh, sau bữa ăn nhiều, khi nằm.
  • Tính chất: Hầu hết các bệnh nhân mô tả cơn đau thắt ngực như thắt lại, bó nghẹt, hoặc bị đè nặng trước ngực và đôi khi cảm giác buốt giá. Một số bệnh nhân có khó thở, mệt lả, đau đầu, buồn nôn, vã mồ hôi.
  • Cơn đau: Thường kéo dài vài phút (3 đến 5 phút), có thể dài hơn nhưng thường không quá 20 phút (nếu đau dài hơn và xuất hiện khi nghỉ cần nghĩ đến Hội chứng mạch vành cấp). Những cơn xảy ra do xúc cảm thường kéo dài hơn là đau do gắng sức. Những cơn đau mà chỉ kéo dài dưới 1 phút thì nên nghĩ đến nguyên nhân khác ngoài tim.

Có nhiều nguyên nhân gây ra đau thắt ngực như do tim, phổi, tiêu hóa, cơ và thần kinh. Do đó cần xác định khả năng đau thắt ngực này do bệnh động mạch vành hay không, chúng ta dựa vào 3 yếu tố sau:

  • Đau thắt chẹn sau xương ức với tính chất và thời gian điển hình.
  • Xuất hiện khi gắng sức hoặc xúc cảm.
  • Đỡ đau khi nghỉ hoặc dùng nitrates;

Đau thắt ngực điển hình (kiểu động mạch vành) gồm 3 yếu tố trên.

Đau thắt ngực ít điển hình: Chỉ gồm 2 yếu tố trên.

Không phải đau thắt ngực/đau thắt ngực không đặc hiệu: Chỉ 1 hoặc không có yếu tố nào.

Đau ngực
Vị trí xuất hiện cơn đau thắt ngực điển hình trong bệnh lý mạch vành

Tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec hiện đang triển khai gói khám mạch vành cung cấp cho người bệnh các quyền lợi thăm khám, xét nghiệm, siêu âm, chụp X-quang... bác sĩ sẽ dựa trên kết quả và đưa ra lời khuyên hoặc phác đồ điều trị bệnh khoa học.

Quý khách có nhu cầu khám tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec có thể đăng ký khám tại hệ thống trên toàn quốc TẠI ĐÂY.

1.3K

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan