......

Xét nghiệm định danh 14 tự kháng thể trong bệnh gan tự miễn

Bài viết bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Trần Quỳnh Trang - Bác sĩ Hóa sinh - Khoa Xét nghiệm - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City

Tự kháng thể có vai trò quan trọng trong chẩn đoán và phân loại bệnh gan tự miễn. Xét nghiệm Panel định tính 14 tự kháng thể trong bệnh gan tự miễn bao gồm: AMA-M2, M2-3E, Sp100, PML, gp210, LKM-1, LC-1, SLA/LP, SS-A, Ro-52, Scl-70,CENP A, CENP B, PGDH hiện đang được thực hiện tại bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City có độ chuẩn xác cao.

1.Bệnh gan tự miễn là gì?

Bệnh mạn tính gây ra do hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công gan, gây ra viêm và phá hủy gan. Các triệu chứng thường gặp là mệt mỏi, đau khớp, buồn nôn, chán ăn, đau ở gan, vàng da và cũng có thể không biểu hiện triệu chứng.

Các loại viêm của bệnh gan tự miễn bao gồm:

  • Viêm gan tự miễn – Autoimmune hepatitis (AIH).
  • Viêm đường mật nguyên phát – Primary biliary cholangitis (PBC).
  • Viêm xơ đường mật nguyên phát – Primary sclerosing cholangitis (PSC).
  • Hội chứng chồng lấp - Overlap Syndrome.

Tỷ lệ mắc bệnh gan tự miễn được thống kê như sau:

1.png

1.1. Viêm gan tự miễn

Viêm gan tự miễn (AIH) là tình trạng viêm mãn tính và tiến triển của gan không rõ nguyên nhân. Có hai loại viêm gan tự miễn được biết đến:

  • Loại 1: Được đặc trưng bởi sự hiện diện của kháng thể kháng cơ trơn ASMA, có hoặc không có kháng thể kháng nhân (ANA).
  • Loại 2: Được đặc trưng với kháng thể kháng gan/ kháng thận (anti-LMK) hoặc kháng thể kháng tế bào gan (anti-LC) dương tính. Hiệu giá kháng thể anti-LC-1 có tương quan với mức độ hoạt động của AIH, anti-LC-1 giảm khi liệu pháp ức chế miễn dịch có hiệu quả, do đó có thể sử dụng nồng độ anti-LC-1 để theo dõi hiệu quả điều trị. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trong số những bệnh nhân mắc bệnh viêm gan tự miễn phụ nữ chiếm đa số, còn nam giới chỉ chiếm 10% đến 20% trong tất cả bệnh nhân.

Viêm gan tự miễn có thể biểu hiện theo nhiều cách khác nhau, phụ thuộc vào mức độ biểu hiện của bệnh gan cấp tính, giai đoạn viêm hoặc biến chứng của xơ gan. Các triệu chứng phổ biến nhất là mệt mỏi, khó chịu, vàng da, đau bụng và đôi khi đau khớp.

Các triệu chứng của suy gan như cổ trướng, bệnh não gan, trong đó xuất huyết tĩnh mạch là một biểu hiện ban đầu hiếm gặp của bệnh viêm gan tự miễn. Viêm gan tự miễn có thể xuất hiện đồng thời với các bệnh tự miễn khác như bệnh Graves, viêm khớp dạng thấp, bệnh đái tháo đường typ I... Khoảng 25% bệnh nhân viêm gan tự miễn không có triệu chứng. Các triệu chứng thực thể phổ biến nhất của bệnh viêm gan tự miễn là gan to (87%), vàng da (69%) ở bệnh nhân nặng.

Việc xác nhận liệu một bệnh nhân có mắc bệnh gan tự miễn hay không là một thách thức do các triệu chứng đa dạng và cách xác định phức tạp. Tuy nhiên, chẩn đoán rõ ràng rất quan trọng để có phương pháp phù hợp và kịp thời. Các tự kháng thể vẫn là công cụ quan trọng đối với các bác sĩ lâm sàng, dấu hiệu huyết thanh học đầu tiên được đề xuất để hỗ trợ phân biệt virus với viêm gan tự miễn mãn tính. Tự kháng thể là một trong những đặc điểm phân biệt của viêm gan tự miễn. Kháng thể kháng nhân, kháng thể kháng cơ trơn (SMA) và kháng thể kháng microsom 1 của gan/ thận (LKM1) là các thành phần chủ chốt để chẩn đoán và phân loại viêm gan tự miễn.

1.2. Xơ gan mật nguyên phát (PBC)

Bệnh xơ gan mật nguyên phát là bệnh mạn tính, trong đó các đường mật trong gan bị phá hủy từ từ, chủ yếu là không có triệu chứng. Nếu triệu chứng xuất hiện sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sống như: ngứa, khô tuyến ngoại tiết, đặc biệt là ở mắt và miệng, khó chịu ở bụng, vàng da, mệt mỏi, cảm giác buồn khó chịu ở chân, mất ngủ, trầm cảm.

Tỷ lệ gặp của bệnh xơ gan mật nguyên phát là: 12 ca trên 100000 dân số. Tỷ lệ mắc mới: 1.2 ca trên 100000 ca trên một năm. Thời gian sống trung bình nếu không điều trị 9-10 năm, chủ yếu là ảnh hưởng đến phụ nữ (90%).

Hiện nay, có 3 tiêu chuẩn được sử dụng để chẩn đoán PBC:

  • Dấu ấn hóa sinh của tình trạng ứ mật: tăng hoạt độ ALP và GGT
  • Sinh thiết gan thể hiện các đặc điểm mô học của PBC
  • Có sự xuất hiện của các tự kháng thể đặc hiệu trong PBC, những kháng thể này bao gồm: AMA-M2 (85-95% số ca) và ANA (5-50% trường hợp).

1.3. Viêm đường mật xơ hóa nguyên phát (PSC)

Bệnh viêm đường mật xơ hóa nguyên phát là bệnh mạn tính gây ra bởi sự phá hủy từ ở đường mật bên trong và ngoài gan. Tỷ lệ mắc: 4-8 ca trên 100000 dân, số ca mắc mới: 0,7 ca trên 100000 dân trên một năm. Bệnh viêm đường mật xơ hóa nguyên phát thường gặp nhất ở nam giới trẻ tuổi và có liên quan đến bệnh viêm loét đại tràng (80% bệnh nhân PSC). Theo đó, có đến 50 % người mắc bệnh không có triệu chứng. Ở các giai đoạn, bệnh có triệu chứng như sau:

  • Giai đoạn sớm: Mệt mỏi, ngứa.
  • Giai đoạn tiến triển: Đau ở vùng bụng phía trên bên phải, sốt, ớn lạnh, ra mồ hôi đêm, gan to, lách to, sút cân, vàng da và vàng mắt. Những bệnh tự miễn này xảy ra phần lớn (85% bệnh nhân) với các bệnh viêm ruột mạn tính, đặc biệt là viêm loét đại tràng. Chúng cũng có thể kết hợp với các bệnh ngoài gan, đặc biệt là hội chứng sicca, viêm tuyến giáp tự miễn, các bệnh viêm khớp hoặc xơ hóa sau phúc mạc và trung thất.

Chẩn đoán huyết thanh với PSC phát hiện các tự kháng thể, với p-ANCA (các kháng thể quanh nhân kháng bào tương bạch cầu ái toan).

Việc xác định viêm gan tự miễn là nguyên nhân gây viêm gan cấp tính và/ hoặc suy gan tối cấp là rất quan trọng, vì sự chậm trễ trong chẩn đoán có thể làm trì hoãn điều trị dẫn đến tiên lượng kém hơn về viêm gan tự miễn. Trong khi điều trị ức chế miễn dịch bằng steroid có thể tránh được nhu cầu ghép gan.

2. Xét nghiệm tự kháng thể trong chẩn đoán, theo dõi điều trị bệnh gan tự miễn

Tự kháng thể là một trong các thành phần quan trọng để chẩn đoán và phân loại viêm gan tự miễn, chúng cần được thử nghiệm ở những bệnh nhân nghi ngờ tình trạng này. Sự hiện diện của kháng thể kháng cơ trơn (SMA) hoặc kháng thể kháng nhân (ANA) phù hợp với chẩn đoán viêm gan tự miễn ở những bệnh nhân có bằng chứng lâm sàng hoặc xét nghiệm tổn thương gan.

Sự hiện diện của kháng thể kháng tế bào (AMA) phù hợp với chẩn đoán xơ gan mật nguyên phát ở những bệnh nhân có bằng chứng về lâm sàng hoặc xét nghiệm tổn thương gan mật.

Sơ đồ chẩn đoán cụ thể như sau:

2.png
3.png

Vai trò của tự kháng thể trong điều trị:

01.JPG

3. Xét nghiệm phát hiện tự kháng thể trong bệnh gan tự miễn tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City

Xét nghiệm định tính xác định tự kháng thể đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới. Tại Việt Nam, hiện nay xét nghiệm Panel định tính 14 tự kháng thể trong bệnh tự miễn ở gan bao gồm: AMA-M2, M2-3E, Sp100, PML, gp210, LKM-1, LC-1, SLA/LP, SS-A, Ro-52, Scl-70,CENP A, CENP B, PGDH được thực hiện hoàn toàn tự động tại khoa xét nghiệm Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City trên hệ thống EURO-BlotOne cung cấp giải pháp đổi mới dựa trên công nghệ lineblot (EUROLINE).

Panel được sử dụng để định tính sự có mặt của các tự kháng thể này trong huyết thanh/ huyết tương nhằm mục đích chẩn đoán xơ gan mật nguyên phát, tăng men gan không rõ lý do, nghi ngờ viêm gan tự miễn và hội chứng chồng lấp.

4.png
Công nghệ Lineblot xét nghiệm panel định tính 14 tự kháng thể bệnh tự miễn ở gan
5.png

Theo đó, việc xác định tự kháng thể là điều kiện tiên quyết để chẩn đoán viêm gan tự miễn. Chúng là các thành phần của hệ thống chấm điểm cho chẩn đoán, đồng thời cung cấp thông tin hữu ích để phân loại viêm gan tự miễn.

Xét nghiệm các tự kháng thể liên quan đến gan bao gồm trong quá trình làm việc với các bệnh nhân viêm gan hoặc ứ mật không rõ nguyên nhân (Review published: 27 March 2018 doi: 10.3389/fimmu.2018.00609).

Hiện nay, xét nghiệm Panel định tính 14 tự kháng thể trong bệnh tự miễn ở gan được thực hiện hoàn toàn tự động tại khoa Xét nghiệm Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City. Vì thế, khi phát hiện hoặc nghi ngờ có triệu chứng của bệnh, bạn hoàn toàn có thể đến Vinmec để được thăm khám, thực hiện xét nghiệm, chẩn đoán giai đoạn bệnh.

Việc sàng lọc, phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm sẽ đem lại tiên lượng điều trị bệnh tốt hơn, thời gian phục hồi bệnh cũng sẽ được rút ngắn lại. Đặc biệt trong quá trình điều trị, các bác sĩ chuyên khoa cũng sẽ luôn phối hợp chặt chẽ với các bác sĩ chuyên khoa khác để đem lại hiệu quả cũng như sự thoải mái cao nhất cho người bệnh. Sau khi trải qua giai đoạn điều trị, bệnh nhân cũng sẽ được theo dõi, tái khám để nhận định việc điều trị có đem lại hiệu quả hay không?

Nếu có nhu cầu tìm hiểu thêm về xét nghiệm chẩn đoán các bệnh lý đường tiêu hóa cũng như nhiều các căn bệnh khác bạn có thể liên hệ đến website Vinmec để được phục vụ.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số 1900 232 389 (phím 0 để gọi Vinmec) hoặc đăng ký lịch khám tại viện TẠI ĐÂY. Nếu có nhu cầu tư vấn sức khỏe từ xa cùng bác sĩ Vinmec, quý khách đặt lịch tư vấn TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn

1.8K

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan

Xin mời bạn chọn tỉnh thành: