......

Cách điều trị ung thư vú giai đoạn cuối ở phụ nữ

Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị ung thư vú giai đoạn cuối mà bác sĩ và bệnh nhân có thể lựa chọn, chẳng hạn như phẫu thuật, hoá trị liệu, liệu pháp hormone, xạ trị,... Mỗi biện pháp đều có các cách thức thực hiện và hiệu quả khác nhau cho từng mục đích điều trị nhất định.

1. Ung thư vú giai đoạn cuối là gì?

Thông thường, ung thư vú sẽ được phân thành 5 giai đoạn từ 0 – IV, trong đó từ 0 – II là ung thư vú giai đoạn đầu & trung bình, từ III – IV là ung thư vú giai đoạn cuối (tiến triển). Cụ thể:

  • Ung thư vú giai đoạn III: Ung thư tiến triển cục bộ, kích thước của khối u > 5cm và đã di căn sang hạch bạch huyết ở nách. Đôi khi, ung thư cũng xuất hiện ở trên 3 hạch bạch huyết dưới nách hoặc di căn đến các hạch bạch huyết gần xương ức và các mô lân cận vú.
  • Ung thư vú giai đoạn IV: Các tế bào ung thư đã di căn và lan ra bên ngoài vú, đi đến các bộ phận khác trong cơ thể.

Tuỳ thuộc vào giai đoạn ung thư vú mà bác sĩ sẽ đề nghị bệnh nhân thực hiện thêm một số xét nghiệm để kiểm tra xem ung thư tiến triển đến mức độ não.

2. Tổng hợp những phương pháp điều trị ung thư vú giai đoạn cuối

Theo quan điểm của chuyên gia, phác đồ điều trị ung thư vú thường được xác định dựa trên các yếu tố như giai đoạn ung thư, sức khoẻ tổng thể, tuổi tác và kết quả xét nghiệm của bệnh nhân. Đối với ung thư vú giai đoạn cuối, cách điều trị thường khác so với những giai đoạn sớm hoặc trung bình. Các cách điều trị ung thư vú giai đoạn cuối thường bao gồm: Xạ trị, hoá trị, phẫu thuật, liệu pháp nhắm trúng đích, liệu pháp hormone hoặc thử nghiệm lâm sàng.

2.1 Điều trị ung thư vú giai đoạn cuối bằng phẫu thuật

Phẫu thuật là một trong những phương pháp điều trị ung thư vú giai đoạn cuối được nhiều bác sĩ khuyến nghị áp dụng. Phẫu thuật thường được dùng nhằm giúp kiểm tra các hạch bạch huyết từ đó loại bỏ càng nhiều khối u càng tốt. Hiện nay, cách điều trị ung thư vú giai đoạn cuối bằng phẫu thuật bao gồm các hình thức sau:

  • Cắt bỏ và kiểm tra hạch bạch huyết (dành cho ung thư vú xâm lấn): Khoảng 1 – 3 hạch bạch huyết được lấy ra qua sinh thiết, hoặc cắt bỏ nhiều hạch bạch huyết bằng phương thức bóc tách vùng nách.
  • Phẫu thuật bảo tồn vú (BCS): Thực hiện hoá trị trước khi phẫu thuật bảo tồn vú nhằm thu nhỏ đáng kể khối u. Hình thức này được gọi là liệu pháp tân bổ trợ. Đối với phẫu thuật bảo tồn vú thường liên quan đến việc cắt bỏ khối u (khối u và một phần mô bình thường), cắt bỏ một phần vú (một phần mô vú lớn nhưng không phải toàn bộ vú).
  • Phẫu thuật cắt bỏ vú triệt để có điều chỉnh: Một số hạch bạch huyết và toàn bộ vú sẽ được cắt bỏ để đem đi xét nghiệm. Bệnh nhân thực hiện phương pháp này có thể kết hợp thêm phẫu thuật tái tạo vú.
  • Phẫu thuật cho ung thư vú di căn (giai đoạn cuối): Nếu ung thư vú ở giai đoạn IV, bác sĩ có thể đề nghị thực hiện phẫu thuật để loại bỏ khối u đã di căn đến các bộ phận khác trong cơ thể như phổi, não hoặc tủy sống. Điều này giúp kiểm soát các triệu chứng và ngăn ngừa sự lây lan rộng của tế bào ung thư.

Mô vú và hạch bạch huyết được loại bỏ trong quá trình phẫu thuật sẽ được kiểm tra dưới kính hiển vi nhằm giúp bác sĩ xác định được các điều sau:

  • Số lượng hạch bạch huyết tồn tại ung thư trong đó.
  • Kích thước của khối ung thư.
  • Cấp độ và mức độ hung hãn của các tế bào ung thư.
  • Kiểm tra có các thụ thể progesterone (PR), estrogen (ER) hoặc HER2 không.

Thông qua những phát hiện này sẽ giúp bác sĩ đưa ra quyết định trị liệu phù hợp nhất cho bệnh nhân đang điều trị ung thư vú giai đoạn cuối.

2.2 Hoá trị liệu cho ung thư vú giai đoạn cuối

Ung thư vú giai đoạn cuối xảy ra khi các tế bào ung thư đã di dời khỏi nơi bắt đầu xuất hiện khối u đầu tiên. Ung thư có thể di căn (lây lan) đến các hạch bạch huyết, mô lân cận khối u hoặc những vị trí khác trong cơ thể. Do tính chất lây lan nhanh chóng nên một phần của quá trình điều trị ung thư vú giai đoạn cuối phải là toàn thân. Các phương pháp điều trị toàn thân hiện nay, bao gồm hoá trị liệu, liệu pháp nhắm trúng đích và liệu pháp hormone.

Kế hoạch điều trị ung thư vú giai đoạn cuối có thể bao gồm một hoặc nhiều liệu pháp hoá trị kết hợp. Đôi khi, sự kết hợp của các loại thuốc hoá trị có thể áp dụng khoảng một vài lần trong một khoảng thời gian nhất định, tương ứng với một chu kỳ. Chẳng hạn, bệnh nhân sẽ nhận được một liều thuốc hoá trị vào ngày đầu tiên và dùng liều tiếp theo sau 21 ngày. Quá trình điều trị sẽ diễn ra trong vòng 3 tuần (một chu kỳ). Trong suốt thời gian trị liệu, bệnh nhân sẽ được theo dõi chặt chẽ nhằm sớm phát hiện các tác dụng phụ hoặc bất kỳ thay đổi nào trong công thức máu.

Điều trị ung thư vú giai đoạn cuối có thể bao gồm một vài chu kỳ hoá trị theo kế hoạch của bác sĩ. Vào cuối mỗi chu kỳ, việc điều trị sẽ được dừng lại. Khi thực hiện điều trị ung thư vú giai đoạn muộn bằng hoá chất, bệnh nhân cũng có thể cần thực hiện phẫu thuật bảo tồn vú hoặc cắt bỏ tuyến vú triệt để có điều chỉnh.

Một số bệnh nhân mắc ung thư vú giai đoạn cuối có thể cần thực hiện hoá trị đến suốt đời. Đối với trường hợp này, ung thư vú sẽ trở thành một căn bệnh mãn tính không thể chữa khỏi mà chỉ kiểm soát trong nhiều năm với các loại thuốc ít gây tác dụng phụ. Mục tiêu điều trị cho ung thư vú dạng này là hoá trị hiệu quả trong khi duy trì chất lượng cuộc sống tốt cho bệnh nhân.

Hiện nay, các loại thuốc hoá trị được sử dụng phổ biến cho bệnh ung thư vú là thuốc truyền qua đường tĩnh mạch. Một số khác được cung cấp dưới dạng uống hoặc thuốc viên. Các thuốc hoá trị liệu thông dụng nhất, bao gồm:

  • Adriamycin (doxorubicin).
  • Methotrexate.
  • Cyclophosphamide.
  • Capecitabine.
  • Taxanes (Taxol, Taxotere).
  • Fluorouracil.
  • Eribulin.
  • Vinorelbine.
  • Epirubicin.
  • Carboplatin.
  • Ixabepilone.

Dựa trên tình trạng sức khoẻ và mong muốn của cá nhân, bệnh nhân có thể trao đổi chi tiết với bác sĩ để lựa chọn phác đồ phù hợp nhất cho lối sống của mình.

2.3 Điều trị ung thư vú giai đoạn cuối bằng xạ trị

Xạ trị là phương pháp sử dụng tia X năng lượng cao giúp tiêu diệt các tế bào ung thư vú. Bệnh nhân mắc ung thư vú giai đoạn cuối có thể được xạ trị vào thành ngực hoặc vú sau khi thực hiện phẫu thuật cắt bỏ vú triệt để. Ngoài ra, xạ trị cũng tiếp cận cho vùng thượng đòn (cổ dưới) và vùng nách. Bức xạ có thể được áp dụng cùng lúc với bức xạ vào vú hay thành ngực với mục đích tiêu diệt bất kỳ tế bào ung thư nào có trong hạch bạch huyết.

Bệnh nhân mắc ung thư vú giai đoạn cuối có thể phải điều trị bằng xạ trị khoảng 5 ngày một tuần và tối đa 6 tuần. Để hiểu rõ hơn về quy trình, lợi ích và rủi ro của xạ trị, bệnh nhân có thể trao đổi với bác sĩ chuyên khoa ung bướu.

2.4 Liệu pháp hormone điều trị ung thư vú giai đoạn cuối

Nếu khối u vú có thụ thể progesterone (PR) hoặc estrogen (ER), bác sĩ có thể chỉ định thực hiện điều trị bằng liệu pháp hormone. Các liệu pháp hormone hiện nay bao gồm Tamoxifen và một số thuốc thuộc nhóm chất ức chế Aromatase (Exemestane, Letrozole và Anastrozole). Những loại thuốc này thường được sử dụng dưới dạng thuốc viên với thời hạn từ 5 – 10 năm sau khi bệnh nhân phẫu thuật ung thư vú. Một số nghiên cứu đã chứng minh, liệu pháp hormone giúp làm giảm đáng kể nguy cơ tái phát ung thư vú nếu khối u có các thụ thể estrogen.

Tuy nhiên, những loại thuốc hormone này cũng tồn tại một số tác dụng phụ đáng chú ý như: Tăng cân, khô hoặc ít tiết dịch âm đạo, cảm giác nóng bừng, cục máu đông, ung thư tử cung, đột quỵ (do dùng Tamoxifen) hoặc đau nhức xương khớp, mỏng xương, loãng xương (do dùng chất ức chế Aromatase). Trong trường hợp điều trị ung thư vú giai đoạn cuối bằng chất ức chế Aromatase, bệnh nhân cần được kiểm tra mật độ xương trước khi bắt đầu trị liệu.

2.5 Điều trị ung thư vú giai đoạn cuối bằng liệu pháp nhắm trúng đích

Liệu pháp nhắm trúng đích là cách điều trị ung thư vú giai đoạn cuối bằng các loại thuốc nhắm vào tế bào ung thư, ngăn chúng phát triển và phân chia trong cơ thể. Liệu pháp này thường được sử dụng cho trường hợp mắc ung thư vú dương tính với HER2 có đặc tính phát triển và lây lan nhanh hơn.

Loại thuốc nhắm vào protein HER2 thông dụng nhất hiện nay là Trastuzumab (Herceptin®), giúp điều trị và ngăn tái phát ung thư vú. Ngoài ra, một số loại thuốc nhắm trúng đích khác cũng được áp dụng cho bệnh nhân mắc ung thư vú giai đoạn cuối, bao gồm Abemaciclib (Verzenio®), Everolimus, Ribociclib (Kisqali®), Olaparib (Lynparza®), ribociclib (Kisqali®), Palbociclib (Ibrance®) và Alpelisib (Piqray®).

Khác với ung thư vú giai đoạn sớm, ung thư vú giai đoạn cuối thường có tiên lượng thấp và việc điều trị cũng trở nên khó khăn hơn. Theo đó, nếu bệnh ung thư vú được phát hiện sớm thì tiên lượng điều trị bệnh rất cao, thậm chí có thể khỏi hẳn và không tái phát. Vì thế, việc tầm soát ung thư vú là việc làm cần thiết, nhất là với các đối tượng có nguy cơ mắc ung thư vú cao.

Hiện nay, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec đã và đang triển khai dịch vụ tầm soát ung thư vú dành cho các đối tượng là phụ nữ ở nhiều độ tuổi khác nhau. Tại Vinmec có đầy đủ trang thiết bị y tế cần thiết, hệ thống máy móc y tế hiện đại để thực hiện các phương pháp thăm khám, chẩn đoán bệnh, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, điều trị ung thư vú ở nhiều giai đoạn. Theo đó, quy trình thăm khám và điều trị ung thư vú tại Vinmec được thực hiện bởi đội ngũ y bác sĩ có chuyên môn cao, đã trải qua đào tạo và được cấp chứng chỉ kỹ thuật, có thể xử lý nhanh và hiệu quả. Vì thế khi sử dụng gói tầm soát và phát hiện sớm ung thư vú của Vinmec, Quý khách hàng có thể phát hiện được bệnh lý ung thư ngay cả khi chưa có triệu chứng, đem lại cơ hội điều trị dứt điểm cao hơn rất nhiều.

Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để được giảm ngay 15% phí khám khi đặt hẹn khám lần đầu trên toàn hệ thống Vinmec (áp dụng từ 17/10 - 31/12/2022). Quý khách cũng có thể quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn tư vấn từ xa qua video với các bác sĩ Vinmec mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng.

Nguồn tham khảo: oncolink.org

75 lượt đọc

Dịch vụ từ Vinmec

Bài viết liên quan