Trang thông tin điện tử của hệ thống Y tế Vinmec
Logo
Lưu ý dành cho bệnh nhân nhồi máu cơ tim
14:4' 30/3/2015

Nhồi máu cơ tim là tình trạng hủy hoại một phần  hoặc chết một vùng cơ  tim do thiếu máu nuôi dưỡng từ các động mạch vành. Hầu hết các trường hợp nhồi máu cơ tim xảy ra trên những bệnh nhân bị mắc bệnh mạch vành.

Ở những bệnh nhân có bệnh mạch vành, động mạch vành bị hẹp lại do những mảng xơ vữa. Tình trạng hẹp này làm thiếu máu cơ tim và có thể gây biểu hiện đau hoặc nặng vùng ngực.

Bình thường các mảng xơ vữa được gắn chặt vào thành động mạch vành. Trong một số trường hợp mảng xơ vữa bị nứt vỡ. Theo cơ chế tự bảo vệ của cơ thể, khi có vết thương, tiểu cầu sẽ đến bám vào bề mặt các mảng nứt vỡ tạo thành các cục máu đông. Đây là phản ứng bảo vệ sống còn của cơ thể:  Khi bị thương tổn, các mạch máu gây chảy máu ra ngoài (khi bị đứt tay, vết thương bên ngoài) sẽ cầm máu được. Nhưng khi xảy ra ở trong lòng động mạch vành, có thể gây tắc hoàn toàn hoặc một phần động mạch vành và gây nên tình trạng nhồi máu cơ tim.

Bác sĩ Nguyễn Hoàng Hà - Khoa Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City.


1. Các triệu chứng của nhồi máu cơ tim:

1.1. Đau ngực:
• Đau dữ dội hoặc khó chịu tại vùng ngực (cảm giác nặng, đè ép hoặc bóp chặt).
• Đau lan từ ngực ra các vùng khác cơ thể như phần bụng trên.
• Lan ra vai, tay, cổ, hàm.
• Đau có thể tăng dần và tồn tại trong vài giây.
• Thông thường khi nằm xuống, cơn đau tăng lên và khi ngồi dậy có thể giảm đau.

1.2. Các triệu chứng khác:
• Khó thở.
• Buồn nôn, nôn hoặc ợ hơi.
• Vã mồ hôi.
• Hồi hộp đánh trống ngực.
• Đau đầu.
• Cảm giác rất mệt và có thể ngất.

2. Chẩn đoán nhồi máu cơ tim:

Nếu bạn bị cơn đau ngực mới (lần đầu xuất hiện hoặc khác hẳn với cơn đau đã từng có) nhưng lại dữ dội và kéo dài, đừng chần chừ gọi xe cấp cứu. Từng phút đều quý giá, vì nếu bạn thực sự bị nhồi máu cơ tim, thời gian quyết định tính mạng của bạn.  Không phải mọi trường hợp đau ngực đều bị nhồi máu cơ tim, nhưng do tính chất nguy hiểm và phổ biến của bệnh, bạn cũng không nên bất ngờ khi các cơ sở y tế điều trị bạn như bị nhồi máu cơ tim cho đến khi các kết quả thăm dò chứng tỏ bạn không mắc bệnh.

3. Điều trị nhồi máu cơ tim:  

3.1. Bạn sẽ được thở oxy và làm điện tâm đồ ngay lập tức. Điện tâm đồ cho phép đánh giá hoạt động điện học của các vùng cơ tim khác nhau. Qua đó, đánh giá được mức độ thiếu máu cũng như khả năng hủy hoại cơ tim. Thông thường, các bác sĩ sẽ làm nhiều lần điện tâm đồ trong một thời gian ngắn để đánh giá mức độ thay đổi.

3.2. Bạn cũng sẽ ngay lập tức được đặt đường truyền để có thể cho thuốc trực tiếp vào máu, lấy máu để xét nghiệm các chất được giải phóng khi các tế bào cơ tim bị hủy hoại. Thông thường sẽ có 3 loại thuốc được kê: Nitroglycerin để giãn mạch vành và giảm cơn đau, Morphin làm giảm đau và an thần, aspirin để tránh hình thành cục máu mới. 

3.3. Dựa trên điện tâm đồ, có thể chia làm 2 loại nhồi máu cơ tim với cách điều trị khác nhau : Nhồi máu cơ tim ST chênh lên (STEMI) và nhồi máu cơ tim ST không chênh lên (NSTEMI).

3.3.1. Nhồi máu cơ tim ST không chênh lên: Bệnh nhân được điều trị bắt đầu bằng thuốc Aspirin để ngăn hình thành huyết khối, thuốc Chẹn Beta giao cảm để làm chậm nhịp tim và giảm tiêu thụ oxy cơ tim, thuốc nhóm Statin để hạ cholesterol máu và ổn định mảng xơ vữa. Sau khi điều trị bằng thuốc, hướng tiếp theo là điều trị nội khoa tích cực bằng thuốc hoặc sẽ chụp động mạch vành sớm.

- Điều trị nội khoa tích cực: Bệnh nhân sẽ được điều trị tích cực bằng thuốc đường tĩnh mạch trong vài ngày, sau đó sẽ giảm một số thuốc. Nếu triệu chứng đau không xuất hiện trở lại, bạn sẽ được làm nghiệm pháp gắng sức (đánh giá sự thay đổi trên điện tâm đồ khi chạy trên thảm hoặc đạp xe tại chỗ). Kết quả của nghiệm pháp gắng sức sẽ cho biết động mạch vành của bạn có bị hẹp, tắc hay không. Dựa trên kết quả của nghiệm pháp này bạn có thể được xuất viện hoặc được thăm dò kỹ hơn bằng phương pháp chụp mạch vành, can thiệp mạch vành hoặc phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành.

- Chụp mạch vành xét can thiệp sớm: Với hướng điều trị này, bạn sẽ được chụp động mạch vành và xét can thiệp. Các bác sĩ sẽ đưa một ống nhỏ bằng nhựa qua 1 động mạch (động mạch quay hoặc động mạch đùi) vào trong tim, đến tận động mạch vành và bơm thuốc cản quang để chụp X - quang chọn lọc. Nếu phát hiện được những thương tổn hẹp tắc động mạch vành, các bác sĩ có thể dùng một quả bóng nhỏ bơm căng để làm rộng chỗ hẹp hoặc đặt một khung đỡ (stent) vào vị trí tổn thương. Trong một số trường hợp như nhiều chỗ hẹp, nhiều động mạch vành bị hẹp, tiểu đường, chức năng tim kém, các bác sĩ phẫu thuật bắc cầu nối giữa động mạch chủ và động mạch vành (sử dụng mạch máu tự thân ở vùng ngực hoặc chi nối tắt qua vị trí hẹp tắc).

3.3.2. Điều trị nhồi máu cơ tim có ST chênh lên: Khi trên điện tâm đồ có biểu hiện của nhồi máu cơ tim có ST chênh lên, hầu hết mọi trường hợp cũng được dùng các thuốc như điều trị nhồi máu cơ tim ST không chênh lên. Sự khác nhau là các bác sĩ sẽ cố gắng nhanh chóng “ mở” động mạch vành bị tắc nghẽn.
Thủ thuật “ mở” động mạch vành bị tắc nghẽn trong y khoa gọi là “Điều trị  tái tưới máu”. Nếu tái tưới máu càng sớm thì hy vọng cứu được vùng cơ tim thương tổn càng nhiều. Bệnh nhân được tích cực điều trị trong vòng 4h đầu, vẫn có thể cứu được cơ tim, nhưng tốt nhất là trong khoảng 90 - 120 phút. Điều trị tái tưới máu có thể thực hiện theo hai cách. Phương pháp hiệu quả nhất là can thiệp động mạch vành qua da (nong và đặt stent động mạch vành). Tuy nhiên không phải bệnh viện nào cũng có đầy đủ phương tiện và nhân sự. Trong trường hợp đó, phương pháp thay thế có thể chấp nhận được là dùng thuốc làm tan cục huyết khối. Nếu điều trị theo phương pháp dùng thuốc nên sử dụng trong khoảng 30 phút sau khi bệnh nhân nhập viện. Thuốc tiêu huyết khối không dùng được trên những nhóm bệnh nhân đang bị cơn cao huyết áp, đang chảy máu, mới bị chấn thương hoặc có tiền sử đột quỵ. Trong trường hợp nhồi máu có tim ST không chênh cũng không có chỉ định dùng thuốc tiêu huyết khối. Trong một số trường hợp đặc biệt có thể tái tưới máu bằng phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành.

3.4. Ra viện và theo dõi tiếp theo. Nếu như bạn không có biến chứng thì có thể được xuất viện sau 3 - 5 ngày. Bạn cần tuân thủ điều trị theo hướng dẫn của bác sĩ một cách chặt chẽ. Nếu xuất hiện các biến chứng khi dùng thuốc, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi thay đổi liều, hoặc đổi thuốc. Bạn cũng nên bỏ thuốc lá và có lối sống cho phù hợp, đồng thời tập phục hồi chức năng theo hướng dẫn chặt chẽ của các chuyên gia.

Chia sẻ bài này

        

 Copyright (c) 2015 by VINMEC. All rights reserved.
Thiết kế website bởi Wecan-Group.com