Tác dụng phụ lâu dài của điều trị ung thư

15/07/2019
Tác dụng phụ của thuốc điều trị ung thư

Tác dụng muộn sau điều trị ung thư là một tác dụng phụ xảy ra vài tháng hoặc nhiều năm sau điều trị. Nhiều người đã được điều trị ung thư có nguy cơ phát triển các tác dụng phụ lâu dài. Trên thực tế, việc đánh giá và điều trị các tác dụng muộn này là một phần quan trọng trong quá trình chăm sóc và điều trị.

1. Tác dụng phụ xảy ra do phẫu thuật

Tác dụng phụ lâu dài từ phẫu thuật phụ thuộc vào loại ung thư và vị trí phẫu thuật.

  • Những người sống sót sau ung thư xương và mô mềm có thể gặp các tác động về thể chất và tinh thần do mất tất cả hoặc một phần của chi. Một ví dụ là đau nhức chân ma. Đây là cảm giác vẫn còn đau ở chi mặc dù chi đó đã mất đi.
  • Những người đã phẫu thuật để loại bỏ các hạch bạch huyết hoặc xạ trị đến các hạch bạch huyết có thể bị phù bạch huyết. Hạch bạch huyết là những cơ quan nhỏ, hình hạt đậu giúp chống nhiễm trùng. Phù bạch huyết là khi chất lỏng bạch huyết tích tụ gây sưng và đau.
  • Đàn ông và phụ nữ đã có một số ca phẫu thuật ở xương chậu hoặc bụng có khả năng bị vô sinh.

2. Tác dụng phụ liên quan đến tim mạch

Cả hóa trị và xạ trị vào ngực đều có thể gây ra các vấn đề về tim. Những người sống sót có nguy cơ xảy ra tác dụng phụ lâu dài cao hơn bao gồm:

  • Những người đã được điều trị ung thư hạch Hodgkin khi còn nhỏ
  • Những người từ 65 tuổi trở lên
  • Những người nhận được hóa trị liệu liều cao hơn bình thường
  • Những người đã sử dụng một số loại thuốc, chẳng hạn như trastuzumab (Herceptin, Ogivri) và doxorubicin (Adriamycin, Doxil)
Tác dụng phụ của thuốc điều trị ung thư
Cả hóa trị và xạ trị vào ngực đều có thể gây ra các vấn đề về tim

3. Tác dụng phụ lâu dài liên quan đến phổi

Hóa trị và xạ trị vào ngực có thể làm hư hại phổi. Những người sống sót sau ung thư được điều trị bằng cả hóa trị và xạ trị có thể có nguy cơ tổn thương phổi cao hơn. Một số loại thuốc có khả năng gây tổn thương phổi bao gồm: Bleomycin (Blexane), chất làm mềm da (Becenum, BiCNU, Carmubris), methotrexate.

Các tác dụng muộn có thể bao gồm: Dày lên của niêm mạc phổi, viêm phổi, khó thở.

Những người có tiền sử bệnh phổi và người lớn tuổi có thể có thêm các vấn đề khác về phổi.

4. Vấn đề hệ thống nội tiết (hormone) sau điều trị ung thư

Một số phương pháp điều trị ung thư có thể ảnh hưởng đến hệ thống nội tiết. Hệ thống nội tiết bao gồm các tuyến và các cơ quan tạo ra hormon và sản xuất trứng hoặc tinh trùng. Những người sống sót sau ung thư có nguy cơ thay đổi hormone từ điều trị nên được xét nghiệm máu thường xuyên để đo nồng độ hormone.

5. Mãn kinh sau điều trị ung thư

Nhiều phương pháp điều trị ung thư có thể khiến phụ nữ có các triệu chứng mãn kinh. Chúng bao gồm phẫu thuật cắt bỏ buồng trứng, hóa trị liệu, liệu pháp hormone và xạ trị đến vùng xương chậu. Các triệu chứng mãn kinh do điều trị ung thư có thể tồi tệ hơn các triệu chứng mãn kinh tự nhiên.

Một số phụ nữ sau khi dùng liệu pháp hormone có thể chấm dứt kinh nguyệt. Đối với một số phụ nữ trẻ, kinh nguyệt có thể trở lại sau khi điều trị. Nhưng phụ nữ trên 40 tuổi ít có khả năng có kinh nguyệt trở lại. Ngay cả khi điều trị ung thư không gây ra mãn kinh ngay lập tức, nó vẫn có thể khiến mãn kinh bắt đầu sớm hơn bình thường.

6. Vấn đề nội tiết tố ở nam giới sau điều trị ung thư

Đàn ông có thể gặp các triệu chứng tương tự như mãn kinh ở nữ giới từ một số phương pháp điều trị. Chúng bao gồm liệu pháp hormone cho ung thư tuyến tiền liệt hoặc phẫu thuật để cắt bỏ tinh hoàn. Các triệu chứng có thể bao gồm thay đổi ham muốn tình dục, bốc hỏa và loãng xương.

7. Vô sinh sau điều trị ung thư

Phương pháp điều trị ảnh hưởng đến cơ quan sinh sản hoặc hệ thống nội tiết làm tăng nguy cơ vô sinh. Vô sinh do điều trị ung thư có thể kéo dài trong một thời gian ngắn hoặc có thể là vĩnh viễn.

Tác dụng phụ của thuốc điều trị ung thư
Phương pháp điều trị ảnh hưởng đến cơ quan sinh sản hoặc hệ thống nội tiết làm tăng nguy cơ vô sinh

8. Vấn đề nội tiết tố từ xạ trị đầu và cổ

Xạ trị đến vùng đầu và cổ có thể làm giảm nồng độ hormone hoặc gây ra những thay đổi tại tuyến giáp.

9. Các vấn đề về xương, khớp và mô mềm

Hóa trị, thuốc steroid hoặc liệu pháp hormon có thể gây ra bệnh loãng xương, làm loãng xương hoặc đau khớp. Liệu pháp miễn dịch có thể gây ra các vấn đề ở khớp hoặc cơ, còn được gọi là các vấn đề thấp khớp. Một số người có thể có nguy cơ gặp các vấn đề này cao hơn nếu họ không hoạt động thể chất.

Những người khỏi bệnh ung thư có thể giảm nguy cơ mắc bệnh loãng xương theo những cách sau:

  • Tránh hút thuốc lá
  • Ăn thực phẩm giàu canxi và vitamin D
  • Trở nên năng động
  • Hạn chế uống rượu

10. Não, tủy sống và các vấn đề về thần kinh

Hóa trị và xạ trị có thể gây ra tác dụng phụ lâu dài cho não, tủy sống và dây thần kinh. Những tác dụng muộn này bao gồm:

  • Nghe kém do hóa trị liệu liều cao, đặc biệt là các loại thuốc như cisplatin.
  • Tăng nguy cơ đột quỵ não từ xạ trị liều cao
  • Tác dụng phụ của hệ thần kinh, bao gồm tổn thương dây thần kinh bên ngoài não và tủy sống (được gọi là bệnh thần kinh ngoại biên)

Để kiểm tra những ảnh hưởng này, những người sau điều trị ung thư nên được kiểm tra thể chất và kiểm tra thính giác thường xuyên.

11. Giảm trí nhớ và khả năng học tập

Hóa trị và xạ trị liều cao vào đầu và các khu vực khác của cơ thể có thể gây ra vấn đề về nhận thức cho cả người lớn và trẻ em. Vấn đề nhận thức xảy ra khi một người gặp khó khăn trong việc xử lý thông tin. Những người sau điều trị ung thư gặp phải bất kỳ vấn đề nào trong số này nên nói chuyện với bác sĩ để được tư vấn.

12. Sức khỏe răng miệng và các vấn đề về thị lực

Những người sau điều trị ung thư có thể gặp các vấn đề về sức khỏe răng miệng, tùy thuộc vào các phương pháp điều trị mà họ nhận được:

  • Hóa trị có thể ảnh hưởng đến men răng và làm tăng nguy cơ mắc các vấn đề răng miệng lâu dài.
  • Liệu pháp xạ trị liều cao đến vùng đầu và cổ có thể làm thay đổi sự phát triển của răng. Nó cũng có thể gây ra bệnh nướu răng và sản xuất nước bọt thấp hơn, gây khô miệng.
  • Thuốc steroid có thể làm tăng nguy cơ mắc các vấn đề về mắt như bong tróc mắt ảnh hưởng đến thị lực (đục thủy tinh thể).

Để theo dõi các vấn đề này trong tương lai, người bệnh nên sắp xếp các cuộc hẹn thường xuyên với nha sĩ và bác sĩ nhãn khoa.

13. Vấn đề tiêu hóa sau điều trị ung thư

Phẫu thuật hoặc xạ trị đến vùng bụng có thể gây sẹo, đau lâu và các vấn đề về đường ruột ảnh hưởng đến tiêu hóa. Hơn nữa, một số người có thể bị tiêu chảy mãn tính làm giảm khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng.

Tác dụng phụ của thuốc điều trị ung thư
Phẫu thuật hoặc xạ trị đến vùng bụng có thể gây sẹo, đau lâu và các vấn đề về đường ruột ảnh hưởng đến tiêu hóa

14. Vấn đề về cảm xúc

Đây là một rối loạn lo âu. Những người sống sót sau ung thư thường trải qua những cảm xúc tích cực và tiêu cực khác nhau, bao gồm: Được cứu sống, cảm giác biết ơn để được sống, sợ tái phát, sự phẫn nộ, cảm giác tội lỗi, phiền muộn, lo lắng, cô đơn.

Người bệnh lúc này ngoài sự hỗ trợ chấn an tâm lý từ gia đình, họ cần đến sự hỗ trợ từ các đội ngũ chuyên gia phòng khám tâm lý, kết hợp việc áp dụng đúng liệu pháp cũng là một trong những yếu tố quan trọng giúp bệnh nhân mắc ung thư vượt qua nỗi sợ hãi, trầm cảm, cảm giác dằn vặt của bản thân.

15. Tái phát ung thư sau điều trị

Ung thư thứ phát có thể là ung thư nguyên phát mới. Hoặc, nó có thể đã lan sang các bộ phận khác trong cơ thể. Nó có thể phát triển như là một tác dụng muộn của các phương pháp điều trị ung thư trước đây, như hóa trị và xạ trị.

16. Làm hỏng các tế bào gốc tủy xương

Hóa trị và xạ trị làm tăng nguy cơ mắc bệnh bạch cầu cấp tính hoặc bệnh tủy. Myelodysplasia là một bệnh ung thư máu, trong đó các thành phần bình thường của máu hoặc không được tạo ra hoặc là bất thường.

17. Mệt mỏi

Mệt mỏi là một cảm giác dai dẳng của sự suy giảm về thể chất, cảm xúc hoặc tinh thần hoặc kiệt sức. Đây là tác dụng phụ phổ biến nhất của điều trị ung thư. Một số người sau ung thư thành công trải qua mệt mỏi trong nhiều tháng hoặc thậm chí nhiều năm sau khi kết thúc điều trị.

Bài viết tham khảo nguồn: Cancer.net

XEM THÊM: